Tim kiem nhanh

  

Tin chi tiết

  In bài    Gửi bài

BỨC TRANH THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 2011 KỲ VỌNG NĂM 2012

(20/01/2012 10:50:00)

Nhìn lại bức tranh toàn cảnh của thị trường tài chính Việt Nam năm 2011, dấu ấn khá sâu đậm với nhiều màu sắc đan xen. Sau một năm thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ chặt chẽ để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, đến nay nền kinh tế đã đạt được một số kết quả tích cực, trong đó có thể thấy rõ một số kết quả bước đầu trên từng bộ phận của thị trường tài chính.

Thị trường tiền tệ ổn định

            Điểm nhấn trên bức tranh thị trường tiền tệ năm 2011 là thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều hành theo hướng chặt chẽ ngay từ đầu năm 2011. Bắt đầu bằng việc điều chỉnh tăng trưởng tín dụng của năm xuống dưới 20%, điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất, áp trần lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam và USD, mở rộng diện dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các các tổ chức tín dụng, thực hiện cho vay tái cấp vốn cho mục tiêu mở rộng tín dụng nông nghiệp, nông thôn, cho vay qua đêm để đảm bảo khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng, đến việc kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng vào khu vực sản xuất kinh doanh và phi sản xuất, giám sát và xử lí nghiêm các tổ chức tín dụng huy động vốn vượt quá 14%/năm, điều chỉnh mạnh cơ cấu tín dụng, thu hẹp đối tượng cho vay bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng…

            Nhờ đó, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện, tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm chỉ ở mức 15%, thấp hơn so với kế hoạch và cũng là năm mức huy động vốn cao hơn tốc độ cho vay vốn. NHNN đã chỉ đạo chặt chẽ thị trường lãi suất tiền gửi, xử lí nghiêm những ngân hàng vi phạm dưới hình thức vượt trần, lách luật, đưa lãi suất huy động từ 1 tháng trở lên đều ở mức 14%/năm. Khi lãi suất huy động vốn giảm, lãi suất cho vay đối với nền kinh tế cũng có xu hướng giảm dần, từ đó tạo hiệu ứng tích cực từ phía nền kinh tế, từ các khách hàng vay vốn, đồng thời cũng giúp các tổ chức tín dụng hạn chế nợ xấu do tác động hai mặt của cơ chế lãi suất cao.


Tỷ giá hối đoái lần đầu tiên sau nhiều năm không có sự chêch lệch lớn với tỷ giá trên thị trường tự do. NHNN đã điều chỉnh mạnh tỷ giá liên ngân hàng lên 10,15% (từ mức 18.932 lên mức 20.803), đồng thời hạ biên độ giao dịch xuống còn +/-1%, điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi USD của doanh nghiệp và dân cư xuống còn 0,5% và 2%. Biện pháp này đã cho phép các tổ chức tín dụng mua được ngoại tệ, thị trường có tính thanh khoản tốt hơn, đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ hợp lý cho khách hàng, đồng thời có dư bán về NHNN, góp phần tăng được dữ trữ ngoại hối quốc gia.

Một bộ phận của thị trường tiền tệ, đó là việc huy động, cho vay và mua bán vàng miếng có sự biến động mạnh. Từ việc dừng cho vay vàng đối với các tổ chức tín dụng, hạn chế huy động vàng miếng trực tiếp, đến việc bán ngoại tệ cho doanh nghiệp nhập khẩu vàng và cấp quota cho từng doanh nghiệp… những biện pháp này chưa tạo ra sự ổn định của thị trường vàng. Loại trừ yếu tố tăng giá của thị trường thế giới, giá vàng trong nước đã diễn biến quá phức tạp, chịu nhiều tác động bởi yếu tố đầu cơ, làm giá để trục lợi. Vì thế, năm 2011 là năm bất ổn của thị trường vàng. 

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2011 cũng phải đối mặt với nhiều thông tin kinh tế vĩ mô tiêu cực: sự mất giá mạnh của VND; việc điều chỉnh giá điện tăng 15%; giá xăng dầu tăng; chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trong những tháng đầu năm và chính sách thắt chặt tín dụng. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi trong phần lớn thời gian của năm 2011, thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục trầm lắng và đối mặt với nhiều khó khăn.

Dòng tiền đổ vào thị trường còn hạn chế do chính sách tiền tệ và tài khóa chặt chẽ khiến cho hoạt động của nhiều doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn HOSE và HASE giao dịch gặp nhiều khó khăn, nên chỉ số chứng khoán bị giảm mạnh.

Trên thị trường bất động sản, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chặt chẽ cũng tác động lớn đến một số chủ dự án và nhà đầu tư bất động sản nhỏ lẻ, làm cho họ gần như không bán được hàng. Ngay cả thị trường căn hộ cao cấp vốn được coi là ít chịu tác động từ lạm phát, nhưng vẫn rất ít giao dịch được thực hiện. Để bán được hàng, các chủ dự án đã dùng nhiều giải pháp như chiết khấu giá, giảm giá, kéo dài thời gian nộp tiền, hay chia ra nhiều lần thanh toán… nhưng thị trường bất động sản vẫn trầm lắng.

Do hệ thống thị trường tài chính nước ta lệ thuộc quá lớn vào chính sách tài chính, tiền tệ, khi chính sách tài chính tiền tệ điều hành theo hướng thắt chặt để đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, thì đã tác động tiêu cực đến từng bộ phận của thị trường ở các mức độ khác nhau. Sự biến động của thị trường chứng khoán cũng như thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối ở nước ta cho thấy hệ thống thị trường tài chính bị phân khúc, chưa đạt sự minh bạch trong quản trị, điều hành. Bởi vậy, những rủi ro tiềm ẩn từ nội tại các chủ thể tham gia thị trường chưa được xử lý triệt để, các thông tin thị trường chưa được cập nhật một cách chuẩn xác, trong khi yếu tố tâm lý của nhà đầu tư luôn bị chi phối nặng nề bởi các thông tin này. Trên thị trường vẫn còn khoảng trống pháp lý cho những nhà đầu cơ lũng đoạn thị trường.

Kỳ vọng năm 2012

Bối cảnh kinh tế toàn cầu của năm 2012 vẫn còn đối diện với nhiều khó khăn phức tạp. Kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức. Thâm hụt ngân sách và nợ công tăng quá mức đang là áp lực đối với các nước phát triển như: EU, Mỹ, Nhật Bản… đe dọa sự ổn định kinh tế toàn cầu. Sự tăng trưởng chậm lại và gia tăng lạm phát của các nước kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, những xung đột khu vực, tranh chấp lãnh thổ sẽ gây thêm nhiều khó khăn cho sự phát triển. Vì vậy, nguồn FDI và ODA đều có nguy cơ giảm sút.

Xét bối cảnh trong nước, kinh tế xã hội nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như: năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp, vĩ mô chưa ổn định do những tiềm ẩn rủi ro được tích tụ từ nhiều năm, nợ nước ngoài tăng, lạm phát vẫn còn cao… Vì thế, năm 2012 vẫn phải ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ, tài khóa chặt chẽ, điều này cũng sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống thị trường tài chính.

Theo Nghị quyết của Quốc hội, mục tiêu quan trọng nhất trong năm 2012 vẫn là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh…

Với nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, Quốc hội yêu cầu, tái cơ cấu đầu tư phải đi vào trọng tâm là đầu tư công, theo hướng giảm dần tỷ trọng và nâng cao hiệu quả. Xây dựng cơ chế, chính sách định hướng và tạo điều kiện đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động đầu tư. Nâng cao chất lượng và tính bền vững của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tái cơ cấu doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Minh bạch hóa tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tăng tính an toàn của nền kinh tế. Tăng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu, các doanh nghiệp chế biến nông sản, sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ trực tiếp đời sống nhân dân, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động. Cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, các tổ chức tài chính nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng tính an toàn hệ thống. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các công ty chứng khoán; tăng hiệu quả hoạt động bảo hiểm; kiểm soát hiệu quả các quỹ đầu tư, ngăn chặn hiện tượng đầu cơ lũng đoạn thị trường.

Trong đó, cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường vàng và ngoại tệ, khắc phục tình trạng đôla hóa; kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước, vay trả nợ nước ngoài, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán và các nguồn vốn “nóng” khác.

Cần tiếp tục kiên trì kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện chính sách tiền tệ với mục tiêu hàng đầu là ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát để bảo đảm tương thích giữa tăng tổng phương tiện thanh toán, tăng dư nợ tín dụng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và kiềm chế tăng chỉ số giá tiêu dùng. Giảm dần tỷ lệ huy động vốn đầu tư từ tín dụng ngân hàng, đẩy mạnh kênh huy động vốn qua thị trường chứng khoán và các định chế tài chính khác.

Bên cạnh nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, Chính phủ phải bảo đảm sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước, sự chấp hành và tổ chức, triển khai thực hiện nghiêm túc của các cấp chính quyền trong thực hiện mục tiêu ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát. Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm soát nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia. Điều hành chặt chẽ, thận trọng các chính sách tài khóa, tiền tệ, xuất - nhập khẩu… kiểm soát để chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng ở mức thấp, ổn định theo từng tháng và đạt mục tiêu cả năm.

Tổng mức đầu tư vốn trái phiếu chính phủ giai đoạn 2011 - 2015 không quá 225.000 tỷ đồng. Danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 gồm 16 chương trình với tổng mức kinh phí không quá 276.372 tỷ đồng. Trong đó, vốn từ ngân sách trung ương là 105.392 tỷ đồng, ngân sách địa phương 61.542,5 tỷ đồng, vốn nước ngoài 19.987,5 tỷ đồng, vốn tín dụng 39.815 tỷ đồng, còn lại là nguồn vốn huy động khác.

Trọng Triết (Trích từ Thông tin tài chính số 01+02/2012)

[Trở về]

 
Số 6 - 8 Phan Huy Chú - Hoàn Kiếm - Hà Nội, Tel: (84-4) 2220 4028, Fax: (84-4)2220 4020 2223 2234, Email: support@mof.gov.vn