THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi: Bộ Tài Chính Công ty có phát sinh hoạt động thu mua các mặt hàng như: “vỏ cây nghiền, vỏ cây băm, củi keo băm, dăm ván lạng, dăm gỗ quy khô, vỏ keo, dăm rác gỗ keo, …” từ người dân (cá nhân không kinh doanh). Các loại nhiên liệu này được người dân thực hiện các công đoạn như: cắt, băm, nghiền, phơi/sấy để đạt độ ẩm theo yêu cầu; đồng thời được sàng lọc, loại bỏ tạp chất (đất, cát, đá sỏi, Sau đó, Công ty kiểm tra theo tiêu chuẩn kỹ thuật và bán lại cho các doanh nghiệp khác để sử dụng làm nhiên liệu đốt trong lò hơi phục vụ sản xuất. Các sản phẩm này phải đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật nhất định (độ ẩm, kích thước, độ sạch…) để đảm bảo vận hành lò hơi an toàn, ổn định và đáp ứng yêu cầu môi trường - Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định: Sản phẩm cây trồng, rừng trồng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT; các hình thức sơ chế thông thường bao gồm: làm sạch, phơi, sấy khô, cắt, xay, nghiền… - Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT - Căn cứ khoản 1b Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP (được bổ sung tại Nghị định số 359/2025/NĐ-CP): Doanh nghiệp mua sản phẩm nêu trên và bán cho doanh nghiệp khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT ở khâu thương mại. - Căn cứ khoản 3 Điều 19 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP: Trường hợp bán cho tổ chức, cá nhân khác thì áp dụng thuế suất 5%. Hiện nay, Công ty chưa rõ việc xác định thuế suất thuế GTGT đối với hoạt động bán ra các mặt hàng nêu trên trong trường hợp: • Thu mua từ cá nhân không kinh doanh; • Bán lại cho doanh nghiệp sử dụng làm nhiên liệu đốt lò hơi. Để thực hiện đúng quy định pháp luật về thuế, Công ty kính đề nghị Quý Cơ quan xem xét và hướng dẫn: • Xác định bản chất hàng hóa trong trường hợp nêu trên có được xem là nhiên liệu sơ chế thông thường hay nhiên liệu đã qua chế biến. • Trên cơ sở đó, hướng dẫn cụ thể thuế suất thuế GTGT áp dụng đối với hoạt động bán ra từ ngày 01/01/2026. Công ty cam kết cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan theo yêu cầu của Quý Cơ quan. Kính mong Quý Cơ quan xem xét và có ý kiến hướng dẫn để Công ty thực hiện đúng quy định. Xin trân trọng cảm ơn!
07/05/2026
Trả lời:

- Quy định tại Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 149/2025/QH15):

+ Tại khoản 1 Điều 5 quy định đối tượng không chịu thuế như sau: “1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.”

+ Tại điểm d khoản 2 Điều 9 quy định thuế suất 5% như sau: “d) Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;”

+ Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 10% như sau: “3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.”

- Quy định tại Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ) quy định như sau:

+ Tại khoản 1 Điều 4 quy định đối tượng không chịu thuế bao gồm:

 “1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.

Trường hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp để xác định là sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu theo quy định của pháp luật.

1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trong đó:

a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.

b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định này.

c) Hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp khi bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì tính thuế giá trị gia tăng phải nộp theo doanh thu bằng 1% (tỷ lệ %) nhân với doanh thu.”

+ Tại khoản 3 Điều 19 quy định đối tượng chịu thuế suất 5% bao gồm: Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

Tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 359/2025/NĐ-CP quy định: 1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

Đề nghị độc giả Thanh An nghiên cứu quy định nêu trên để thực hiện theo quy định của pháp luật.
Gửi phản hồi: