THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính thưa Bộ Tài chính! Tôi có 3 câu hỏi mong được Quý Cơ quan sớm trả lời để được đảm bảo quyền lợi theo quy định của pháp luật, câu hỏi như sau: Đối với dự án khu nhà ở được chấp thuận chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2020 và Nhà đầu tư đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án trước ngày Luật Đầu tư năm 2025 có hiệu lực thi hành. Đồng thời không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 52 của Luật Đầu tư năm 2025 và Nghị định 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026. Câu 1: Do kinh tế khó khăn nên Nhà đầu tư điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản a, b, c, d, đ, e, g khoản 4 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2025 thì dự án có được điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng so với tiến độ thực hiện dự án đầu tư quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu không? Câu 2: Nếu được điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư thì Nhà đầu tư có BẮT BUỘC phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư không? Câu 3: Trường hợp có nhu cầu điều chỉnh theo quy định tại khoản 5 Điều 102 Nghị định 96/2026/NĐ-CP nếu dự án không thuộc các trường hợp quy định tại khoản a, b, c, d, đ, e, g khoản 4 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2025 thì Nhà đầu tư có được phép điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng so với tiến độ thực hiện dự án đầu tư quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu không?
04/08/2026
Trả lời:

1. Về việc điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư quá 24 tháng

Theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Luật Đầu tư năm 2020 và khoản 4 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2025, đối với dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư, nhà đầu tư không được điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư quá 24 tháng so với tiến độ thực hiện dự án đầu tư quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Để khắc phục hậu quả trong trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật về đất đai;

b) Điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư do nhà đầu tư chậm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

c) Điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan nhà nước chậm thực hiện thủ tục hành chính;

d) Điều chỉnh dự án đầu tư do cơ quan nhà nước thay đổi quy hoạch;

đ) Thay đổi mục tiêu đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư; bổ sung mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư;

e) Tăng tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên làm thay đổi quy mô dự án đầu tư.

g) Trường hợp khác theo quy định của Chính phủ[1].

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp dự án đầu tư đã được chấp thuận chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2020, nhà đầu tư không được điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư quá 24 tháng so với tiến độ thực hiện dự án đầu tư quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu nếu không thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản 4 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2025.

2. Về việc nhà đầu tư có nhu cầu điều chỉnh theo quy định tại khoản 5 Điều 102 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

- Khoản 5 Điều 102 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP quy định:

“Đối với dự án thuộc diện quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành nhưng không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 52 của Luật Đầu tư và Nghị định này, khi thực hiện điều chỉnh dự án, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Trường hợp có nhu cầu điều chỉnh, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 53 Nghị định này đối với nội dung dự án đầu tư thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật Đầu tư…”.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 52 Luật Đầu tư năm 2025, đối với dự án thuộc diện quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật này, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, trừ trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu điều chỉnh.

Như vậy, việc điều chỉnh chủ trương đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu theo quy định tại khoản 5 Điều 102 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP áp dụng trong trường hợp dự án thuộc diện quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành nhưng nay không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại Luật Đầu tư năm 2025. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng phải đáp ứng điều kiện như phân tích tại mục 1 công văn này.

Trên đây là ý kiến của Bộ Tài chính gửi ông Vũ Thành Nam để nghiên cứu, thực hiện theo quy định pháp luật


[1] Luật Đầu tư năm 2025 bổ sung trường hợp này so với Luật Đầu tư năm 2020.

Gửi phản hồi: