THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:

Thửa đất của gia đình tôi có nguồn gốc do ông Trần Văn Thụy được phân chia và tự xây dựng nhà tạm để ở từ tháng 07/1973. Đến ngày 06/03/1992, ông Trần Văn Thụy chuyển nhượng lại nhà, đất cho ông Phan Đức Oanh bằng giấy viết tay. Đến ngày 16/09/1992, ông Phan Đức Oanh được UBND thành phố Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, đất số 1889/CNSH.

Sau đó, ông Phan Đức Oanh được UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 060764 ngày 15/05/1998 với diện tích 556 m² (trong đó 230 m² đất ở và 326 m² đất nông nghiệp).

Đến ngày 28/06/2010, thửa đất được UBND thành phố Vũng Tàu tiếp tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 435812 với diện tích 525,5 m² (trong đó 230 m² đất ở và 295,5 m² đất trồng cây lâu năm), thửa đất số 32, tờ bản đồ số 9.

Đến ngày 03/01/2018, ông Oanh làm thủ tục tách thành 03 thửa, gồm: thửa đất số 233, thửa đất số 234 và thửa đất số 235. Thửa đất số 234, tờ bản đồ số 9, diện tích 235,7 m² (trong đó 92,5 m² đất ở và 142,9 m² đất trồng cây lâu năm) được ông Oanh tặng cho con trai là ông Phan Đức Hải và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Vũng Tàu xác nhận ngày 26/02/2018.

Tiếp theo, ông Phan Đức Hải chuyển nhượng cho ông Ca Lê Anh Vũ và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Vũng Tàu xác nhận ngày 17/12/2018.

Ông Ca Lê Anh Vũ chuyển nhượng lại cho vợ chồng tôi là ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Đoàn Thị Hồi, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Vũng Tàu xác nhận ngày 17/06/2019.

Sau đó, ông Nguyễn Tiến Dũng chết và để lại thừa kế cho vợ là bà Đoàn Thị Hồi và con trai là ông Nguyễn Tiến Việt Hoàng. Hai người được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số AA 02392217 và AA 02392218 ngày 22/07/2025.

Hiện mẹ con tôi đang ở và sử dụng đất ổn định cho đến nay, không có tranh chấp với ai.

Ngày 28/07/2025, tôi làm hồ sơ xin chuyển thêm 27,5 m² đất trồng cây lâu năm sang đất ở từ diện tích 142,9 m² đất trồng cây lâu năm. Đến ngày 09/09/2025, tôi nhận được thông báo nộp tiền và đã chia làm 02 lần để nộp hết vào tháng 09/2025 và tháng 12/2025.

Vậy tôi có đủ điều kiện để tính tiền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên theo quy định tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 14/11/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất không ạ?

06/10/2026
Trả lời:

          - Liên quan đến nội dung tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội, ngày 08/06/2026, Bộ Tài chính đã có Công văn số 7713/BTC-QLCS gửi Thuế các tỉnh, thành phố (tại nơi nhận có Ủy ban nhân dân, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố) để hướng dẫn cụ thể về phạm vi, đối tượng áp dụng của c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP về việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở. Theo đó, các trường hợp được áp dụng quy định về mức thu tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 bao gồm: (i) đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất; (ii) đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất; (iii) đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng.

          - Tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15, Điều 6 và khoản 2 Điều 12 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP đã có quy định cụ thể về việc tính, tính lại tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ 03 loại đất nêu trên.

          - Tại Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP, Nghị định số 50/2026/NĐ-CP) đã có quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan chức năng địa phương (cơ quan quản lý đất đai, cơ quan thuế, cơ quan tài chính…) trong việc luân chuyển hồ sơ và xác định nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trong việc: (1) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tính, thu, nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; (2) Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương thực hiện việc tính, thu, nộp tiền thuê đất tại địa phương

          - Ngày 21/7/2026, Bộ Tài chính đã có Công văn số 10657/BTC-QLCS gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc triển khai thực hiện tính, tính lại tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở quy định tại Nghi đinh số 50/2026/NĐ-CP.

Trên đây Bộ Tài chính thông tin về chính sách, chế độ; đề nghị độc giả Đoàn Thị Hồi căn cứ hồ sơ cụ thể, liên hệ với cơ quan chức năng tại địa phương để được hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định. Trường hợp có vướng mắc về việc xác định nguồn gốc sử dụng đất, đề nghị độc giả thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý nhà nước được giao.

          Bộ Tài chính trả lời để độc giả Đoàn Thị Hồi được biết./.

Gửi phản hồi: