Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài chính

Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài chính 15/05/2020 16:20:00 2

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài chính

15/05/2020 16:20:00

Khoa học và công nghệ (KH&CN) có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Các chủ trương, chính sách phát triển KH&CN không chỉ phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể, mà còn là những định hướng chiến lược quan trọng để Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật, chương trình hành động và triển khai thực hiện.

Trong lĩnh vực tài chính, Bộ Tài chính đã tích cực cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ về phát triển và ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực tài chính (như đã ban hành Quyết định 1849/QĐ-BTC ngày 30/7/2014 về Ban hành Chương trình hành động của ngành Tài chính thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW…), góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN, nâng cao sự đóng góp của KH&CN vào sự phát triển chung của đất nước.

M:\15.5-.jpg

1. Đổi mới cơ chế tài chính thông qua việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước

Luật NSNN sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã được xác định trong Nghị quyết số 46/NQ-CP nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ “đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, phương thức đầu tư và cơ chế tài chính” về phân bổ và điều tiết NSNN phù hợp với đặc thù của lĩnh vực KH&CN và nhu cầu phát triển theo hướng căn cứ vào kết quả, hiệu quả sử dụng kinh phí KH&CN.

Theo đó, để quản lý hiệu quả việc sử dụng ngân sách, Chính phủ trực tiếp quy định việc thực hiện quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ1. Bên cạnh đó, để tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của đơn vị, Luật NSNN quy định “Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng ngân sách theo dự toán được giao, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách”2.

Đồng thời, để đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động KH&CN, phù hợp với đặc thù của lĩnh vực nghiên cứu khoa học, Luật NSNN cho phép chuyển nguồn sang năm sau để thực hiện và hạch toán quyết toán vào ngân sách năm sau đối với một số khoản chi, trong đó có kinh phí nghiên cứu khoa học khi hết năm ngân sách3.

2. Sửa đổi chính sách thuế đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ nhằm huy động và khuyến khích các nguồn lực ngoài ngân sách

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW và Nghị quyết số 46/NQ-CP của Chính phủ nhằm huy động mạnh mẽ nguồn vốn xã hội và các nguồn vốn nước ngoài đầu tư cho phát triển KH&CN, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNDN; Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế. Các ưu đãi đối với hoạt động KH&CN cũng được quy định trong Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT); Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ; Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định việc miễn, giảm tiền thuê đất đối với các dự án đầu tư.

Để tạo hành lang pháp lý, thúc đẩy việc sử dụng Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ KH&CN ban hành Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BKH&CN-BTC ngày 28/6/2016 hướng dẫn nội dung chi và quản lý Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp áp dụng từ kỳ tính thuế 2016 (trước năm 2016 thực hiện theo Thông tư số 15/2011/TT-BTC ngày 09/02/2011 và Thông tư số 105/2012/TT-BTC ngày 25/6/2012 của Bộ Tài chính).

Với các quy định mới về thuế được ban hành và sửa đổi, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực KH&CN đã nhận được ưu đãi ở mức cao nhất trong khung ưu đãi của pháp luật thuế. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính còn ban hành nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích để tăng cường huy động các nguồn lực ngoài NSNN cho KH&CN, góp phần huy động, khuyến khích các nguồn lực ngoài NSNN, đặc biệt là đầu tư của các doanh nghiệp cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ, đúng với chủ trương tại Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020.

3. Đầu tư cho khoa học và công nghệ

Tại Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định mục tiêu là phấn đấu tăng tổng đầu tư xã hội cho KH&CN đạt 1,5% GDP vào năm 2015 và trên 2% GDP vào năm 2020. Bảo đảm mức đầu tư từ NSNN cho KH&CN không dưới 2% tổng chi NSNN hằng năm. Bộ Tài chính đã lập dự toán trình Chính phủ, trình Quốc hội phê duyệt mức dự toán và chi NSNN cho KH&CN về cơ bản đảm bảo yêu cầu. Chi NSNN cho KH&CN (tính cả chi cho quốc phòng, an ninh) cho lĩnh vực KH&CN giai đoạn 2011 - 2015 là 95.812 tỷ đồng, đạt khoảng 2% tổng chi NSNN (tương đương 0,5 - 0,6% GDP) về cơ bản đảm bảo được quy định của Luật KH&CN, các Nghị quyết của Quốc hội. Ngoài ra, trong giai đoạn 2011 - 2015 (không tính chi trong an ninh, quốc phòng và chi từ nguồn ưu đãi thu nhập tính thuế của các doanh nghiệp theo quy định), tốc độ chi cho KH&CN hằng năm đạt bình quân tăng 17%, cao gấp 4,2 lần so với giai đoạn 2001 - 2005 và gấp 1,94 lần so với giai đoạn 2006 - 2010.

Trong giai đoạn 2016 - 2019, mặc dù NSNN còn gặp nhiều khó khăn, nhưng chi NSNN cho phát triển hoạt động KH&CN luôn được ưu tiên bố trí năm sau tăng cao hơn so với năm trước. Cơ cấu kinh phí đầu tư phát triển/kinh phí sự nghiệp KH&CN tiếp tục được đảm bảo theo tỷ lệ 40/60. Tổng dự toán chi NSNN sự nghiệp KH&CN trong giai đoạn 2016 - 2019 đã được Quốc hội thông qua tại các nghị quyết về về phân bổ ngân sách hằng năm là 46.729 tỷ đồng.

4. Xây dựng cơ chế chính sách quản lý nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ

Về nội dung, định mức chi, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ KH&CN ban hành Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT/BTC-BKH&CN ngày 22/4/2015 hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ KH&CN có sử dụng NSNN. Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT/BTC-BKH&CN được xây dựng với nhiều điểm mới, trên tinh thần quản lý theo kết quả đầu ra và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN ngay từ khâu xây dựng dự toán nhiệm vụ KH&CN, trong đó chi tiền công cho các chức danh nghiên cứu (thay thế cho nội dung chi chuyên đề trước đây), góp phần nâng cao quyền tự chủ cũng như trách nhiệm của hội đồng khoa học; việc xác định mức chi thuê chuyên gia được giao cho thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ, qua đó tạo tính chủ động cho các cơ quan, đơn vị tổ chức nhiệm vụ KH&CN.

Đối với công tác quản lý thực hiện nhiệm vụ, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ KH&CN ban hành Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BKH&CN-BTC ngày 30/12/2015 về cơ chế khoán chi đối với thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng NSNN. Theo đó, các nhiệm vụ KH&CN có thể được khoán chi tới sản phẩm cuối cùng, nghĩa là thực hiện khoán chi cả các nội dung như mua sắm trang thiết bị khoa học, nguyên, nhiên vật liệu dành cho nghiên cứu. Tùy thuộc vào từng đề tài, trên cơ sở đánh giá của hội đồng khoa học, cơ quan quản lý sẽ xem xét, xác định hình thức thực hiện khoán chi của đề tài. Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BKH&CN-BTC cũng đã quy định đơn giản hóa trong các thủ tục, quy trình mở tài khoản, tạm ứng, thanh toán và kiểm soát chi. Theo đó, Kho bạc Nhà nước chỉ thực hiện kiểm soát chi theo bảng kê khối lượng công việc đã hoàn thành thay cho việc kiểm soát trên các hóa đơn, chứng từ chi tiết như đối với kiểm soát chi trong các lĩnh vực khác.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật NSNN năm 2015, kinh phí thực hiện các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực KH&CN đang trong thời gian thực hiện được phép chuyển số dư dự toán và số dư tạm ứng sang năm sau để chi tiếp mà không bị hủy bỏ hoặc phải báo cáo xin phép cơ quan tài chính như các nguồn kinh phí khác. Đây là quy định riêng, có tính đặc thù đối với lĩnh vực KH&CN của Luật NSNN năm 2015.

Hệ thống văn bản quy định quản lý tài chính đối với Chương trình KH&CN cấp Quốc gia đã được Bộ Tài chính tích cực hoàn thiện (Thông tư liên tịch số 218/2012/TTLT/BTC-BKH&CN, Thông tư liên tịch số 219/2012/TTLT/BTC-BKH&CN, Thông tư liên tịch số 207/2013/TTLT/BTC-BKH&CN, Thông tư liên tịch số 79/2014/TTLT/BTC-BKH&CN, Thông tư liên tịch số 59/2015/TTLT-BTC-BKH&CN, Thông tư số 348/2016/TT-BTC, Thông tư số 88/2017/TT-BTC, Thông tư số 142/2017/TT-BTC, Thông tư số 142/2017/TT-BTC, Thông tư số 14/2019/TT-BTC), giúp cho công tác quản lý tài chính đối với Chương trình KH&CN cấp Quốc gia được thuận lợi.

5. Xây dựng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện cho thấy, mặc dù các tổ chức KH&CN đã thực hiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhưng việc triển khai vẫn còn chậm. Do đó, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ KH&CN trình Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập và ban hành Thông tư số 90/2017/TT-BTC ngày 30/8/2017 hướng dẫn Nghị định số 54/2016/NĐ-CP về cơ chế tự chủ tài chính của tổ chức KH&CN công lập. Như vậy, cho đến nay về cơ chế chính sách đã đảm bảo đủ cơ sở pháp lý để triển khai chế độ tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực KH&CN, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN theo Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020, Nghị quyết số 20-NQ/TW và Nghị quyết số 46/NQ-CP.

Việc giao quyền tự chủ tài chính cho các tổ chức KH&CN đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao; phát triển nguồn thu, từ đó góp phần chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động và góp phần vào bù đắp một phần nhu cầu tiền lương tăng thêm theo quy định của Chính phủ; cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập.

Nhằm xây dựng và đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN, thúc đẩy quá trình chuyển đổi của các đơn vị sự nghiệp KH&CN, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP về cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Mới đây, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng NSNN từ nguồn kinh phí chi thường xuyên, trong đó bao gồm cả sản phẩm, dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp KH&CN.

Như vậy, hệ thống chính sách tài chính nhằm phát triển KH&CN đã từng bước được sửa đổi, hoàn thiện, cơ bản phù hợp với thực tiễn. Các quy định mới nâng cao mức ưu đãi cho hoạt động KH&CN, tăng tính chủ động cho các đơn vị và cá nhân thực hiện. Đồng thời, tạo cơ chế thông thoáng trong quá trình kiểm soát chi, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực KH&CN, giúp phát triển mạnh mẽ KH&CN, nâng cao sự đóng góp của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Ban QLKH&HTQT

*1 Khoản 15, Điều 25, Luật NSNN năm 2015.

*2 Khoản 1, Điều 61, Luật NSNN năm 2015.

*3 Khoản 3, Điều 64 Luật NSNN năm 2015.