Những đột phá và định hướng lớn của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030: Những vấn đề đặt ra đối với Chiến lược Tài chính đến năm 2030

Những đột phá và định hướng lớn của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030: Những vấn đề đặt ra đối với Chiến lược Tài chính đến năm 2030 23/02/2021 15:13:00 1

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Những đột phá và định hướng lớn của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030: Những vấn đề đặt ra đối với Chiến lược Tài chính đến năm 2030

23/02/2021 15:13:00

Bùi Tất Thắng

Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Đến nay, Việt Nam đã trải qua ba kỳ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (1991 - 2000, 2001 - 2010, 2010 - 2020) và đang xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030. Các chiến lược đều có những mục tiêu chung, nhưng cũng có nhiều nhiệm vụ phản ánh đặc điểm, mục tiêu mang tính đặc thù của bối cảnh cụ thể từng thời kỳ. Sau 10 năm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, kinh tế Việt Nam đã đạt được một số kết quả nổi bật: Tăng trưởng kinh tế đạt tương đối cao, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, kinh tế vĩ mô ổn định; việc thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng… có kết quả tích cực; nhiều mục tiêu phát triển thiên niên kỷ được hoàn thành trước thời hạn và đang tích cực triển khai thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Tuy nhiên, một số mục tiêu chiến lược vẫn chưa chưa đạt được, trong đó có mục tiêu tổng quát đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; tăng trưởng kinh tế thấp hơn mục tiêu chiến lược đề ra, khoảng cách phát triển với nhiều nước đi trước chưa được thu hẹp; quá trình cơ cấu lại nền kinh tế để mới mô hình tăng trưởng còn chậm; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn chưa thực sự đồng bộ, đầy đủ, hiệu quả. Mặc dù được cải thiện nhiều so với trước, nhưng môi trường kinh doanh ở một số lĩnh vực, địa phương vẫn chưa thực sự thông thoáng, hấp dẫn. Các dấu ấn của đột phá chiến lược chưa đủ để thay đổi toàn bộ tình hình. Năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế còn thấp. Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu; chưa gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để thành động lực phát triển chủ yếu. Hệ thống kết cấu hạ tầng tuy được cải thiện nhiều hơn nhưng lại thiếu tính đồng bộ, hiệu quả sử dụng chưa cao. Nền công nghiệp quốc gia chưa nắm bắt được những khâu then chốt của chuỗi giá trị và cung ứng, vẫn còn phụ thuộc lớn vào bên ngoài, thậm chí vào một thị trường. Cuộc khủng hoảng “kép” về y tế và kinh tế do dịch Covid-19 gây ra trên phạm vi toàn cầu càng làm đậm thêm những mặt hạn chế về khả năng làm chủ các chuỗi cung ứng và giá trị của kinh tế Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh như vậy, giai đoạn 2021 - 2030 cần tiếp tục thực hiện các đột phá chiến lược được đề ra từ chiến lược 10 năm trước và xác định rõ một số nội dung định hướng phát triển mới để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

1. Vài nét về việc thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 có nhiều mục tiêu mang tính toàn diện, trong đó có một số mục tiêu định hướng lớn, mang tính dài hạn ở tầm vĩ mô.

1.1. Tăng trưởng GDP đạt 7 - 8%/năm và GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3 nghìn USD

Trong giai đoạn 2011 - 2020, mặc dù có những thời kỳ rất khó khăn như năm 2011 - 2012, do chịu ảnh hưởng mạnh của suy thoái kinh tế thế giới và đặc biệt là năm 2020 với dịch Covid-19, nhưng bình quân giai đoạn 2011 - 2020, tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn đạt khoảng 5,9%/năm, là một trong những nền kinh tế có mức tăng trưởng cao trên thế giới. Quy mô GDP tăng gấp 2,4 lần, từ 116 tỷ USD trong năm 2010 lên khoảng 275 tỷ USD vào năm 2020. GDP bình quân đầu người tăng từ 1.331 USD trong năm 2010 lên khoảng 2.814 USD năm 2020. GDP bình quân đầu người năm 2020 so với năm 2010 chỉ tăng khoảng 1.480 USD, thấp hơn nhiều nước trong khu vực (năm 2018 so với năm 2010, GDP/người của Singapore tăng thêm 11.837 USD, Hàn Quốc 5.004 USD, Trung Quốc 3.256 USD…). Mặc dù chưa đạt mục tiêu của Chiến lược đề ra là năm 2020 đạt 3 nghìn USD, nhưng nếu tính theo cách đánh giá lại quy mô nền kinh tế của Tổng cục Thống kê, tổng GDP năm 2020 đạt khoảng 350 tỷ USD và GDP bình quân đầu người là 3.590 USD, cao hơn so với mục tiêu của Chiến lược đề ra.

1.2. Ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

Về cơ bản trong 10 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt được kết quả tốt. CPI bình quân giảm từ 18,6% trong năm 2011 xuống ổn định khoảng 4%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Lạm phát cơ bản giảm từ 13,6% trong năm 2011 xuống khoảng 2% trong năm 2020. Thị trường tiền tệ, ngoại hối cơ bản ổn định; bảo đảm vốn tín dụng cho nền kinh tế, tập trung cho lĩnh vực sản xuất, nhất là các ngành ưu tiên. Vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2011 - 2020 đạt gần 15 triệu tỷ đồng (tương đương 682 tỷ USD), tăng bình quân 10,6%/năm, trong đó vốn ngân sách nhà nước (NSNN) và trái phiếu chính phủ là 3,1 triệu tỷ đồng (144 tỷ USD), chiếm 20,8% tổng đầu tư xã hội, tập trung cho các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trọng điểm, nhất là giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, nông nghiệp, nông thôn, giảm nghèo, an ninh, quốc phòng... góp phần quan trọng thay đổi diện mạo đất nước, tạo động lực cho phát triển và thu hút các nguồn lực ngoài nhà nước.

Vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng đầu tư xã hội, tăng từ 36,1% trong năm 2010 lên 46,2% trong năm 2020. Một số tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân đã tham gia đầu tư, hoàn thành nhiều công trình, dự án lớn, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất - kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhiều dự án hạ tầng theo phương thức đối tác công - tư (PPP) được triển khai, nhất là trong lĩnh vực giao thông. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký giai đoạn 2011 - 2020 đạt trên 278 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 152,3 tỷ USD, tăng gần 6,9%/năm, chiếm 22,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Bội chi NSNN giảm từ bình quân 5,4% GDP trong giai đoạn 2011 - 2015 xuống 3,9% GDP trong giai đoạn 2016 - 2019. Tỷ lệ nợ công so với GDP tăng từ 51,7% cuối năm 2010 lên 63,7% trong năm 2016 để huy động nguồn lực thực hiện đột phá chiến lược về kết cấu hạ tầng. Từ năm 2017, nhờ giảm bội chi NSNN, siết chặt quản lý vay và bảo lãnh chính phủ, nợ công bắt đầu giảm; tỷ lệ nợ công đến năm 2019 giảm còn 54,7%.

Tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu tăng 3,6 lần, từ 157,1 tỷ USD của năm 2010 lên 517 tỷ USD trong năm 2019, tương đương trên 190% GDP. Cán cân thương mại chuyển từ thâm hụt 12,6 tỷ USD trong năm 2010 sang cơ bản cân bằng và có thặng dư vào những năm cuối kỳ Chiến lược. Cán cân thanh toán quốc tế thặng dư; dự trữ ngoại hối tăng từ 12,4 tỷ USD (năm 2010) lên 28 tỷ USD (năm 2015) và đạt trên 80 tỷ USD (cuối kỳ Chiến lược).

Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích lũy - tiêu dùng, tiết kiệm - đầu tư, năng lượng, lương thực… tiếp tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô. Tỷ lệ tiết kiệm so với GDP giai đoạn 2011 - 2020 bình quân đạt khoảng 29%.

1.3. Thực hiện ba đột phá chiến lược

Ba mục tiêu gồm: (i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; (ii) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; (iii) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Mục tiêu này tuy chưa đạt được mức “đột phá” như kỳ vọng, nhưng cũng có nhiều dấu ấn thành công.

Nhiều chính sách thông thoáng hơn đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình sở hữu hoạt động, kinh doanh theo hướng cạnh tranh minh bạch, bình đẳng. Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế nhiều hơn. Môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam nhờ đó được cải thiện vị trí xếp hạng, từ vị trí 88/183 năm 2010 lên vị trí 70/190 quốc gia, vùng lãnh thổ năm 2019.

Đối với việc phát triển nguồn nhân lực gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ, tỷ lệ lao động qua đào tạo đã tăng từ 40% trong năm 2010 lên khoảng 65% trong năm 2020; trong đó, lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 14,6% lên khoảng 24%. Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng, trong đó một số ngành, lĩnh vực đạt trình độ khu vực và quốc tế như công nghệ thông tin, y tế, công nghiệp xây dựng, cơ khí… Công tác đào tạo nhân lực đã chuyển hướng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, người sử dụng lao động, thị trường. Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo được triển khai tích cực theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Hệ thống giáo dục quốc dân và khung trình độ quốc gia mới đã được xây dựng và triển khai. Mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo tiếp tục được mở rộng ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học. Việc dạy và học đạo đức, kỹ năng sống, ngoại ngữ, giáo dục thể chất đã được chú trọng hơn, từng bước tiếp cận qua internet, truyền hình với nhiều hình thức khác nhau.

Nhiều công trình, dự án kết cấu hạ tầng lớn, hiện đại trong các lĩnh vực như giao thông, năng lượng, viễn thông, thủy lợi, đô thị, thương mại… được tập trung đầu tư, hoàn thành và đưa vào khai thác. Năng lực hệ thống kết cấu hạ tầng được nâng lên đáng kể, nhiều lĩnh vực có bước đột phá có dấu ấn rõ ràng nhất như giao thông đường bộ, đường hàng không, điện lực, thông tin, y tế, hạ tầng các đô thị lớn.

1.4. Tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng

Ngay từ đầu giai đoạn 2011 - 2020, vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đã được đặt ra. Thực tế 10 năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển căn bản từ kế hoạch đầu tư công hằng năm sang kế hoạch đầu tư công trung hạn, huy động mọi nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Vốn đầu tư từ NSNN tập trung nhiều hơn vào các công trình quan trọng, thiết yếu. Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước đi vào thực chất hơn, tập trung vào cổ phần hóa, thoái vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước (bao gồm doanh nghiệp tư nhân và kinh tế hộ gia đình) phát triển khá nhanh, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, sản xuất ra 43% GDP, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.

Chất lượng tăng trưởng thể hiện qua mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng từ bình quân 33,6% trong giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 41,1% trong giai đoạn 2016 - 2020, tính chung 10 năm 2011 - 2020 đạt 37,5%, vượt mục tiêu Chiến lược đề ra (35%). Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 4,3%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 là 5,8%/năm. Hiệu quả đầu tư được nâng lên; hệ số ICOR giảm từ 6,3 trong giai đoạn 2011 - 2015 xuống còn khoảng 6,1 trong giai đoạn 2016 - 2019.

Mặc dù vậy, mô hình tăng trưởng kinh tế mới vẫn chưa hình thành rõ nét, tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào gia tăng số lượng vốn đầu tư, lao động và các nguồn lực đầu vào khác. Việc tái cơ cấu được triển khai rộng khắp ở tất cả các lĩnh vực, các cấp độ, nhưng chưa đồng đều.

1.5. Giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới

Lĩnh vực xóa đói giảm nghèo là một trong những thành tựu nổi bật nhất của việc thực hiện Chiến lược 10 năm qua. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm nhanh, từ 14,2% trong năm 2010 xuống 7% trong năm 2015 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015) và giảm từ 9,2% trong năm 2016 xuống dưới 3% vào năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều)*1. Kết cấu hạ tầng thiết yếu ở nhiều huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện hơn trước rất nhiều, tạo điều kiện cho người dân có sinh kế tốt hơn và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời, chương trình xây dựng nông thôn mới đã hoàn thành trước thời hạn gần 2 năm so với mục tiêu chiến lược đề ra; đến hết năm 2019, cả nước có 54% số xã và 111 huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Nhờ chương trình này, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều vùng nông thôn được cải thiện một cách rõ rệt, thực chất.

1.6. Đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Trở thành nước công nghiệp hiện đại đã được đặt ra như là mục tiêu chính của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng xác định thời điểm đến năm 2020, Việt Nam “cơ bản trở thành một nước công nghiệp” thì bắt đầu được nêu ra từ Đại hội VIII (1996). Từ Đại hội VIII đến hết nhiệm kỳ Đại hội XI (2015), thì mục tiêu được đặt ra là đến năm 2020 cơ bản hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa và Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp đã không thực hiện được. Những nghiên cứu về tiêu chí của một nước công nghiệp trong thời kỳ này đã cho thấy, đến năm 2020, Việt Nam vẫn chưa trở thành nước công nghiệp. Vì vậy, Đại hội XII (2016) đã thay bằng mục tiêu: “Phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

2. Các đột phá và định hướng lớn của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030

Kế thừa những kết quả đạt được của thời kỳ chiến lược vừa qua, thời kỳ chiến lược 10 năm tới (đến năm 2030), Việt Nam hướng đến một nền kinh tế cơ bản có công nghiệp hiện đại, mức thu nhập trung bình cao; mô hình kinh tế mới hình thành thay thế mô hình tăng trưởng hiện nay với năng suất lao động cao hơn, sức canh tranh tốt hơn, nền kinh tế phát triển bền vững hơn. Để làm được điều này, việc lựa chọn các đột phá chiến lược và xác định các định hướng phát triển lớn có ý nghĩa rất quan trọng.

2.1. Mục tiêu chung

(i) Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam thành nước có mức thu nhập trung bình cao, có công nghiệp hiện đại; trong đó đến năm 2025 vượt qua mức thu nhập của các nước có thu nhập trung bình thấp, có công nghiệp theo hướng hiện đại.

(ii) Nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, khoa học, công nghệ.

(iii) Phát triển toàn diện nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thể hiện rõ tinh thần dân tộc, khát vọng phát triển Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Tạo sự phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để nâng cấp trình độ công nghệ kỹ thuật của sản xuất và cải thiện khả năng làm chủ các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị của kinh tế quốc gia.

(iv) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, trọng tâm là hạ tầng giao thông, hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu và hạ tầng phục phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số.

(v) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở tái cơ cấu toàn diện nền kinh tế để tạo ra mô hình tăng trưởng kinh tế mới: Số hóa, xanh hóa, bền vững, hiệu quả cao.

(vi) Đổi mới phát triển kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thị làm động lực phát triển vùng và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.

Các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nêu trên chắc chắn sẽ đặt ra nhiều vấn đề mới cho việc xác định chiến lược phát triển nền tài chính quốc gia trong 10 năm tới. Bên cạnh việc đảm bảo nguồn vốn đầu tư phát triển ở mức hợp lý (có thể khoảng 30 - 33% GDP hằng năm), vấn đề quan trọng là cần có một cơ chế thu hút các nguồn vốn theo hướng khai thác tốt hơn khu vực tư nhân trong nước; đồng thời tạo ra cơ chế phân bổ vốn cơ bản theo chỉ dẫn của tín hiệu thị trường và nâng cao hiệu quả đầu tư thuộc mọi loại hình sở hữu. Chính sách tài chính dẫn dắt các nguồn vốn đầu tư sao cho những ai đi theo hướng ưu tiên phục vụ các mục tiêu phát triển quốc gia sẽ đảm bảo thu được lợi ích nhiều hơn, bền vững hơn so với các lĩnh vực đầu tư khác.

2.2. Các đột phá chiến lược

Đối với các đột phá chiến lược, một mặt cần tiếp tục các hướng về thể chế, nhân lực và hạ tầng mà thời kỳ chiến lược trước còn đang thực hiện, nhưng cần xác định những nội dung mới, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn. Mặt khác, cần nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất bằng cách áp dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là một đột phá chiến lược mới.

Đột phá về lĩnh vực thể chế: Nếu như trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 xác định: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính” thì trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 phải là nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập; trong đó đặc biệt chú ý thị trường quyền sử dụng đất, lao động, việc làm và khoa học công nghệ. Đồng thời đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, nhất là quản lý phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.

Đột phá về lĩnh vực phát triển nhân lực: Nếu như trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 xác định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”, thì trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 phải là thực hiện nhanh hơn, quyết liệt hơn việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; hiện đại hóa và thay đổi phương thức giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài cả trong và ngoài nước.

Đột phá về lĩnh vực kết cấu hạ tầng: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 chỉ rõ: “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn” thì Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 không chỉ đặt trọng tâm vào “giao thông và hạ tầng đô thị lớn”, mà còn phải ưu tiên phát triển hạ tầng trọng yếu về năng lượng, công nghệ thông tin, hạ tầng cho nền kinh tế số, xã hội số và hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đột phá mới về khoa học, công nghệ với trọng tâm là phát triển mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Đây là cơ sở để phát triển kinh tế, xã hội một cách khoa học và bắt kịp với xu hướng khoa học công nghệ hiện đại.

2.3. Các định hướng phát triển lớn

Bên cạnh 4 nội dung đột phá mang tính chiến lược nêu trên, một số định hướng phát triển lớn của giai đoạn 2021 - 2030 có thể gồm:

[1] Đẩy mạnh hơn nữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế để đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển nhanh sang nền kinh tế số.

Thực tế cho thấy, một quốc gia có quy mô dân số lớn như Việt Nam, muốn phát triển kinh tế bền vững phải có nền sản xuất vật chất vững mạnh, trong đó có công nghiệp, nông nghiệp hiện đại. Muốn vậy, nhất định phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa để xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Sự khác biệt với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước đây chỉ nên chủ yếu là ở nền tảng khoa học - công nghệ và cách thức tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong một thế giới mới, mở cửa và hội nhập sâu sắc hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đó.

Như vậy, một mặt đòi hỏi phải mở cửa, hội nhập và dựa vào mở cửa, hội nhập để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặt khác phải lấy những tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật, cách thức quản lý theo quy chuẩn quốc tế để áp dụng, đảm bảo sự hài hòa các chuẩn mực. Thời kỳ 10 năm tới khác với các thời kỳ trước đây ở sự xuất hiện và phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, từ đó sinh ra nền kinh tế số với nhiều đặc trưng khác kiểu vận hành kinh tế của các thời kỳ trước. Vì vậy, muốn thực hiện hiện đại hóa, theo kịp trình độ chung của thế giới, cần phải thực hiện chương trình chuyển sang nền kinh tế số một cách hiệu quả.

[2] Khai thác tốt thế mạnh của mỗi vùng, lấy phát triển các đô thị làm động lực phát triển vùng; nâng cao hơn chất lượng xây dựng nông thôn mới và phát triển mạnh kinh tế biển. Trong giai đoạn tới phải tiến hành tốt công tác quy hoạch phát triển quốc gia và quy hoạch phát triển các vùng kinh tế theo Luật Quy hoạch năm 2017. Đây là công việc mới, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi chuyên môn cao, trong đó phải lấy phát triển các đô thị làm động lực phát triển kinh tế của các vùng, lan tỏa ảnh hưởng tới các vùng có điều kiện phát triển kém hơn. Đồng thời kế thừa thành tựu xây dựng nông thôn mới 10 năm trước, phải nâng cao hơn chất lượng xây dựng nông thôn mới, đảm bảo các tiêu chí đầy đủ, thực chất. Ngoài ra, Việt Nam phải đặt mục tiêu phát triển mạnh kinh tế biển, giàu lên từ biển như tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII (10/2018) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045*2.

[3] Phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh của con người Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một định hướng lớn có tính nhất quán của Đảng và Nhà nước. Định hướng này cũng thuận chiều với các mục tiêu phát triển bền vững3 của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã tham gia ký kết và đang phấn đấu sớm hoàn thành các mục tiêu này.

Trong giai đoạn 10 năm tới, cùng với việc tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, cần khuyến khích mạnh mẽ mọi người dân làm giàu theo pháp luật, phát triển mạnh tầng lớp trung lưu gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội. Đây là một trong những giải pháp căn cơ, bền vững nhất để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội.

[4] Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam nằm trong số không nhiều các quốc gia “đất chật, người đông” nên ý nghĩa của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trước hết là đất, nước không chỉ mang ý nghĩa như những nguồn “đầu vào” quý giá của sản xuất vật chất, mà còn là không gian sinh tồn của con người và các loài sinh vật. Vì vậy, trong quá trình sử dụng các nguồn tài nguyên để tăng trưởng kinh tế, việc quản lý và sử dụng tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai4.

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam là một trong năm nước có khả năng chịu ảng hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, đây là yếu tố khách quan gây ra nhiều nguy cơ đối với cuộc sống và sinh kế của một bộ phận dân cư tại những nơi chịu tác động của biến đổi khí hậu. Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế, cần phải tính tới vấn đề bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

3. Những vấn đề đặt ra đối với Chiến lược Tài chính đến năm 2030

Với một số định hướng lớn về phát triển kinh tế - xã hội nêu trên, rõ ràng cần một định hướng Chiến lược Tài chính phù hợp cả về quy mô nguồn vốn cần huy động cũng như thể chế tài chính mang tính hỗ trợ, thúc đẩy phát triển mọi mặt kinh tế - xã hội của đất nước. Xuất phát từ phía cầu về quy mô nguồn vốn và thể chế tài chính hỗ trợ phát triển, một số vấn đề đặt ra như sau:

Quy mô nguồn vốn đầu tư

Trong nhiều năm qua, quy mô vốn đầu tư chiếm khoảng 31 - 34% GDP/năm, là mức huy động trung bình và cần được duy trì đối với nhóm nước trung bình khá, trong đó có Việt Nam. Trong cơ cấu vốn đầu tư, nguồn vốn từ NSNN có xu hướng giảm nhẹ, nguồn vốn FDI có yêu cầu chọn lọc cao hơn, vậy nguồn bù đắp chính phải là huy động từ khu vực kinh tế ngoài nhà nước ở trong nước. Vấn đề nên được lưu ý là, trong 10 năm qua, hệ số ICOR trong nền kinh tế Việt Nam tính bình quân còn khá cao (trên 6), cho thấy hiệu quả vốn đầu tư chưa cao. Nếu đạt mức ICOR khoảng 2 - 3 như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)… thời kỳ các nước này đang tiến hành công nghiệp hóa như Việt Nam hiện nay, thì với tổng vốn đầu tư như cũ, chúng ta có thể đạt mức tăng trưởng trưởng GDP bình quân cao hơn nữa.

Thể chế tài chính hỗ trợ phát triển

Về lý thuyết, cần xây dựng một thể chế tài chính hỗ trợ phát triển. Vấn đề hiện nay là phải thiết kế hệ thống chính sách cụ thể thế nào để đạt được mục tiêu đó.

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ NSNN (đầu tư công) có xu hướng giảm về tỷ trọng, nhưng trên thực tế vẫn là nguồn vốn quan trọng, có vai trò dẫn dắt và định hướng thực hiện các quy hoạch phát triển quốc gia. Trong 2 - 3 năm tới, có thể do tác động của dịch Covid-19, một số nhà đầu tư tư nhân còn cân nhắc và thận trọng khi đầu tư, nên đầu tư công lại càng có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, đây là lúc để rà soát lại tất cả các “điểm nghẽn” chính sách gây cản trở, hạn chế sự lưu thông của nguồn vốn này.

Nguồn vốn FDI vẫn sẽ chiếm tỷ trọng lớn ở thời điểm hiện nay, cũng như thời kỳ chiến lược tới (trung bình khoảng 25% tổng vốn đầu tư xã hội) nên cần sớm cụ thể hóa thành các chính sách cụ thể, những định hướng lớn của Đảng thể hiện qua Nghị quyết số 50/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa XII, ngày 20/8/2019) về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

Đối với nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước cần có chính sách huy động tốt, do về lâu dài, đây là nguồn vốn có nghĩa quyết định nhất đến sự phát triển bền vững đất nước. Nội dung này có thể là một trong những nội dung chủ yếu của Chiến lược Tài chính trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương (2014), Bẫy thu nhập trung bình - Bài học cho Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới (2016), Việt Nam 2035 - Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội.

3. Bùi Tất Thắng - Lưu Đức Hải - Trần Hồng Quang, đồng chủ biên (2014), Hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2020), Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp huyện, tỉnh và tương đương).

7. Ngân hàng Thế giới (2002), Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. Nguyễn Phú Trọng (2006), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Trần Văn Thọ (2015), Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Tri thức.

10. Thể chế phát triển nhanh - bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn mới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019.

1 Theo Quyết định số 1052/QĐ-LĐTBXH ngày 29/7/2019 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

2 Nghị quyết số 36-NQ/TW.

3 Chương trình nghị sự 2030.

4 Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED), Báo cáo Brundtland, 1987.