Định hướng Chiến lược phát triển Dự trữ quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2040

Định hướng Chiến lược phát triển Dự trữ quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2040 18/08/2021 14:40:00 149

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Định hướng Chiến lược phát triển Dự trữ quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2040

18/08/2021 14:40:00

Đỗ Việt Đức

Tổng cục Dự trữ Nhà nước

Dự trữ quốc gia (DTQG) là nguồn dự trữ chiến lược do Nhà nước sở hữu, quản lý, sử dụng nhằm chủ động đáp ứng những mục tiêu, yêu cầu cấp bách về phòng, chốn và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh; đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của Nhà nước. Nguồn lực cho DTQG được hình thành, bố trí từ ngân sách nhà nước (NSNN). Chính phủ sử dụng DTQG như một công cụ tài chính hữu hiệu nhằm thực hiện vai trò can thiệp của Nhà nước trong điều hành vĩ mô nền kinh tế. Ngày 28/12/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2091/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020. Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của thiên nhiên, môi trường, sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh cũng như trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường thì việc thực hiện Chiến lược trong giai đoạn vừa qua vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, nhiều chỉ tiêu định hướng còn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra, cần phải được tăng cường, củng cố trong giai đoạn mới. Bài viết sẽ làm rõ kết quả thực hiện những mục tiêu, định hướng Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020, những vấn đề còn tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực hiện chiến lược. Trên cơ sở đó, xác định các quan điểm, mục tiêu và định hướng Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 làm căn cứ cho việc xác định các nội dung có liên quan đến lĩnh vực DTQG trong Chiến lược Tài chính đến năm 2030 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) giai đoạn 2021 - 2030.

Từ khóa: Định hướng Chiến lược phát triển Dự trữ quốc gia, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

National Reserve is strategic reserves owned, managed and used by the government in order to proactively meet urgent objectives and requirements on preventing and recovering consequence of natural disasters, fires, disasters, epidemics; ensuring national defense, security, social security and implementing other urgent tasks of the government. Resources for national reserve are formed and allocated from the government budget. The Government uses national reserve as an effective financial tool to implement the role of government intervention in managing the macroeconomic. On December 28, 2012, the Prime Minister issued Decision No.2091/QD-TTg approving the strategy of national reserve development until 2020. However, in the context of complicated situation of nature, environment, climate change, natural disasters and epidemics as well as complicated and unpredictable issues in the regions, politics and economy, the implementation of the strategy in the past period has had many difficulties and shortcomings. Many orientation targets have not yet met the requirements and need to be strengthened or consolidated in the new phase. The article will clarify the results of the goals and orientations implementation of national reserve development strategy until 2020; the shortcomings, limitations, reasons and lessons in the process of strategy implementation. On that basis, identifying the views, goals and orientations of national reserve development strategy to 2030 and a vision until 2040 as a basis for determining the contents related to national reserve sector in the Financial Strategy to 2030 and the Socio-Economic Development Strategy in the period of 2021 - 2030.

Keywords: Orientation of National Reserve Development Strategy, Socio-economic Development Strategy.

Ngày nhận bài: 18/12/2020

Ngày nhận phản biện, đánh giá và sửa chữa: 04/01/2021

Ngày duyệt đăng: 11/01/2021

1. Đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược phát triển Dự trữ quốc gia đến năm 2020

Kết quả đạt được

Xây dựng cơ chế chính sách pháp luật về DTQG

Giai đoạn vừa qua, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hình thành hệ thống cơ chế, chính sách tương đối đồng bộ, định hướng cho sự phát triển của ngành DTQG như: Luật DTQG được Quốc hội thông qua năm 2012; Nghị định số 94/2013/NĐ-CP ngày 21/08/2013 quy định chi tiết thi hành Luật DTQG và Nghị định số 128/2015/NĐ-CP ngày 15/12/2015 sửa đổi, bổ sung danh mục chi tiết hàng DTQG và phân công cơ quan quản lý hàng DTQG. Theo thẩm quyền, Bộ Tài chính đã ban hành trên 40 thông tư hướng dẫn các hoạt động DTQG như: Quy định về kế hoạch và dự toán NSNN chi cho DTQG; mua, bán, nhập, xuất hàng DTQG; chế độ kế toán thống kê DTQG, quản lý chất lượng hàng DTQG, quản lý định mức kinh tế - kỹ thuật hàng DTQG; hợp đồng thuê bảo quản hàng DTQG… và một số thông tư ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật hàng DTQG định mức chi phí nhập, chi phí xuất và chi phí bảo quản hàng DTQG.

Tổng mức, quy mô DTQG

Tổng mức, quy mô DTQG đã từng bước được phát triển và củng cố. Dự kiến đến cuối năm 2020, tổng mức DTQG tăng 1,22 lần so với năm 2015 và 1,47 lần so với năm 2010. Việc tăng dần quy mô hàng DTQG góp phần tạo sự chủ động cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc quản lý, điều hành, xuất cấp, phân phối, sử dụng hàng DTQG.

Danh mục hàng DTQG

Giai đoạn vừa qua, danh mục chi tiết hàng DTQG đã được rà soát, sắp xếp và đổi mới; đã dần loại bỏ ra khỏi danh mục một số mặt hàng có thời hạn bảo quản ngắn, không còn phù hợp như mặt hàng thuốc y tế, xe phát thanh lưu động (của Đài Tiếng nói Việt Nam), hạt giống bông (của Bộ Công Thương)... Đã phối hợp các bộ, ngành đánh giá sự cần thiết và nhu cầu DTQG đối với mặt hàng thuốc nổ TNT, TEN tại Bộ Công Thương, qua đó trình Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chuyển về Bộ Quốc phòng quản lý và bảo quản. Đối với mặt hàng nhiên liệu dùng cho máy bay dân dụng, đã điều chuyển từ Bộ Giao thông vận tải về Bộ Công Thương bảo quản theo đúng quy định tại Nghị định số 128/2015/NĐ-CP ngày 15/12/2015 của Chính phủ; trình cấp có thẩm quyền bổ sung danh mục vật tư thiết bị cho Bộ Y tế và rà soát, đánh giá danh mục thuốc bảo vệ thực vật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNN).

Hằng năm, các bộ, ngành đã nghiêm túc thực hiện đánh giá, rà soát danh mục hàng DTQG nhằm đảm bảo các mặt hàng đưa vào DTQG là các mặt hàng tiên tiến, hiện đại, có tần xuất sử dụng nhiều, thời gian lưu kho dài nhằm sẵn sàng chủ động đáp ứng yêu cầu xuất cấp khi có tình huống đột xuất, cấp bách xảy ra.

Phân công cơ quan quản lý hàng DTQG

Đến nay, theo phân công của Chính phủ thì có 9 bộ, ngành quản lý hàng DTQG gồm: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ NN&PTNT, Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam. Tổng cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) là cơ quan tham mưu, giúp Bộ Tài chính quản lý nhà nước về DTQG và trực tiếp quản lý một số mặt hàng DTQG được Chính phủ phân công.

Công tác quản lý DTQG tại các bộ, ngành đã được tổ chức tốt, đã bố trí cơ quan quản lý DTQG chuyên trách tại Bộ Tài chính (Tổng cục DTNN). Công tác quản lý DTQG luôn được chấp hành đúng quy định, không để xảy ra sai phạm trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Nguồn lực NSNN bố trí cho mua hàng DTQG

Trong giai đoạn thực hiện chiến lược, tổng chi NSNN cho DTQG đã được ưu tiên bố trí với mức tăng bình quân khoảng 10%, tập trung vào các mặt hàng chiến lược, thiết yếu, ưu tiên các mặt hàng DTQG phục vụ phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và quốc phòng an ninh. Đồng thời bố trí từ nguồn chi thường xuyên để mua gạo xuất cấp hỗ trợ học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn, hỗ trợ cho công tác chăm sóc bảo vệ rừng. Việc bố trí tăng NSNN từng bước đã làm tăng dần quy mô DTQG, tạo sự chủ động cho Chính phủ trong việc quản lý, điều hành hoạt động DTQG.

Xuất cấp, sử dụng hàng DTQG

Giai đoạn vừa qua, toàn ngành DTQG đã thực hiện xuất cấp hàng DTQG với tổng trị giá trên 12.570 tỷ đồng để cứu trợ, hỗ trợ cho nhân dân các địa phương, trong đó: Bộ Tài chính xuất cấp khoảng 885 nghìn tấn gạo, trị giá khoảng 8,6 nghìn tỷ đồng và xuất cấp hàng vật tư, thiết bị cứu hộ cứu nạn trị giá trên 1,4 nghìn tỷ đồng, xuất muối ăn trị giá khoảng 5 tỷ đồng; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xuất cấp trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trị giá khoảng 740 tỷ đồng; Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Đài Tiếng nói Việt Nam đã cấp hàng phục vụ công tác phòng chống thiên tai, dịch bệnh, hỗ trợ thuốc, trang thiết bị y tế cho nhân dân và chiến sỹ vùng biên giới, hải đảo với tổng trị giá khoảng 1.825 tỷ đồng. Việc xuất cấp hàng DTQG cơ bản đạt được mục tiêu chiến lược đề ra, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ phát sinh, góp phần ổn định đời sống và hoạt động sản xuất của nhân dân các vùng bị thiên tai, dịch bệnh; đảm bảo an ninh, quốc phòng; tăng cường nhiệm vụ quan hệ quốc tế và thực hiện tốt các nhiệm vụ khác được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao. Hàng DTQG xuất cấp luôn đảm bảo về đủ về số lượng, chất lượng, phân phối đúng đối tượng, đúng mục đích, đạt hiệu quả cao trong sử dụng.

Công nghệ bảo quản hàng DTQG

Hàng DTQG luôn được bảo quản theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo về số lượng, chất lượng. Việc áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong nhập, xuất, bảo quản hàng DTQG đã được triển khai với ưu điểm vượt trội như: kéo dài được thời gian bảo quản (đối với lương thực, đến nay đã kéo dài thời hạn bảo quản gấp 1,5 lần so với năm 2010), bảo quản không sử dụng thuốc hóa học, không ảnh hưởng đến môi trường, giảm sức lao động, chi phí và tỷ lệ hao hụt. Công tác kiểm tra chất lượng hàng hóa đã được các bộ, ngành thực hiện chặt chẽ ngay từ khi nhập và được kiểm tra thường xuyên, định kỳ, khi xuất ra đạt chất lượng theo đúng quy định.

Kho DTQG

Trong giai đoạn này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống kho DTQG đến năm 20201. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành đã xây dựng và phê duyệt quy hoạch chi tiết mạng lưới kho DTQG đến năm 2020 và từng bước xây dựng được hệ thống kho DTQG cũng như định hướng thuê kho của các doanh nghiệp để bảo quản hàng DTQG. Kho DTQG được bố trí theo ngành, vùng, tuyến chiến lược, phù hợp với điều kiện KT - XH, an ninh, quốc phòng của vùng lãnh thổ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa công tác bảo quản và quản lý hàng DTQG.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành hoạt động DTQG

Phần mềm điện tử được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như nhập, xuất, quản lý tài chính, biên chế, nhằm đáp ứng được yêu cầu quản lý điều hành hoạt động DTQG. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động DTQG đã giúp cho công tác điều hành hoạt động DTQG được vận hành linh hoạt, nhanh chóng, bảo mật, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành, quản lý DTQG, đồng thời phát huy hiệu quả trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân đối với hoạt động DTQG.

Thanh tra, kiểm tra

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động DTQG đã từng bước khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Từ các cơ quan trung ương cho đến các đơn vị DTQG, doanh nghiệp thuê bảo quản hàng DTQG đã triển khai kịp thời các biện pháp phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và DTQG nói riêng. Qua đó, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý của ngành để đề xuất các giải pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý DTQG, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân trên cả nước. Công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng luôn được duy trì ổn định và đạt kết quả tốt.

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực DTQG

Bên cạnh việc giữ mối liên hệ với các nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, các bộ, ngành còn mở rộng học tập kinh nghiệm về DTQG của các nước có nền kinh tế phát triển, nền công nghệ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp, Nam Phi, Australia. Qua đó đảm bảo có nguồn hàng nhập khẩu đạt chất lượng, cũng như tiếp thu được công nghệ bảo quản tiên tiến của nước ngoài vận dụng vào Việt Nam.

Ngoài ra, trong những năm vừa qua, để thực hiện nhiệm vụ quan hệ quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã có các quyết định giao Bộ Tài chính xuất cấp viện trợ các nước bạn 31 nghìn tấn gạo; Bộ NN&PTNN xuất viện trợ 400 tấn hạt giống lúa (Campuchia 100 tấn hạt giống lúa; Lào 300 tấn hạt giống lúa). Việc xuất cấp đảm bảo chất lượng, an toàn được nước bạn đánh giá cao, góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Tuyên truyền, vận động để nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ công chức trong hoạt động DTQG

Quá trình thi hành, các quy định của pháp luật về DTQG đã được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến các cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động DTQG. Bộ Tài chính (Tổng cục DTNN) đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành quản lý hàng DTQG và các cơ quan đơn vị có liên quan đã tổ chức nhiều hội nghị phổ biến, giáo dục pháp luật; lồng ghép việc giới thiệu các quy định pháp luật mới về DTQG tại các cuộc họp, giao ban trong cơ quan, đơn vị; đăng toàn văn các văn bản quy phạm pháp luật về DTQG trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ Tài chính và Tổng cục DTNN theo quy định. Do vậy, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về DTQG đã được triển khai kịp thời và có hiệu quả. Các cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động DTQG đều tuân thủ và thực hiện một cách nghiêm túc, đảm bảo các quy định pháp luật về DTQG được thực hiện thống nhất và đồng bộ trong hệ thống các cơ quan, đơn vị trong toàn ngành DTQG.

Một số hạn chế, tồn tại

Xây dựng cơ chế chính sách pháp luật về DTQG

Mặc dù các quy định pháp luật về DTQG đã được quy định cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động DTQG nhưng một số quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với hàng DTQG còn chưa được ban hành đầy đủ và kịp thời. Việc thường xuyên thay đổi các quy định pháp luật về đăng kiểm, kiểm tra chất lượng hàng hóa, trong đó có hàng hóa DTQG, cũng ảnh hưởng đến công tác triển khai thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hàng DTQG.

Mặt khác, nguồn nhân lực để đảm bảo việc triển khai thi hành thống nhất, đồng bộ các quy định pháp luật về DTQG còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng về chuyên môn cần phải bổ sung và đào tạo như: công tác pháp chế, công tác xây dựng chính sách pháp luật về DTQG.

Tổng mức DTQG còn thấp so với GDP

Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020 đã đề ra mục tiêu đến năm 2015, tổng mức DTQG đạt khoảng 0,8 - 1% GDP và đến năm 2020 đạt khoảng 1,5% GDP. Đến hết năm 2019, tổng mức DTQG chiếm khoảng 0,18% GDP, đến hết năm 2020 khoảng 0,17% GDP; tuy nhiên, quy mô DTQG so với GDP có xu hướng giảm, từ 0,33% GDP (năm 2011) xuống 0,21% GDP (năm 2015), 0,18% GDP (năm 2019) và đạt khoảng 0,16 - 0,17% GDP, thấp hơn so với mục tiêu Chiến lược phát triển DTQG đề ra.

Một số mặt hàng có mức DTQG chưa đạt mục tiêu đề ra

Xăng dầu, tồn kho đạt khoảng 80% so với định hướng chiến lược đã đề ra (mức đề ra là 500 nghìn m3/tấn); mặt hàng dầu thô hiện chưa đưa vào DTQG (mức đề ra là 700 nghìn tấn); muối ăn, tồn kho đạt khoảng 57% so với mức chiến lược đã đề ra (mức chiến lược đề ra là 130 nghìn tấn); hạt giống cây trồng lượng tồn kho hằng năm rất mỏng, mới đáp ứng khoảng 20 - 30% mức chiến lược đề ra (hạt giống lúa tồn kho cuối năm khoảng 2 nghìn tấn/10 nghìn tấn; ngô khoảng 400 tấn/1.500 tấn; hạt giống rau khoảng 40 - 50 tấn/130 tấn).

Vốn bố trí để mua các mặt hàng quốc phòng, an ninh, hàng y tế chưa theo định hướng Chiến lược đã đề ra. Các mặt hàng phục vụ giao thông vận tải, phát thanh, truyền hình chưa được bố trí vốn mua tăng trong giai đoạn này.

Danh mục chi tiết và phân công cơ quan quản lý còn tồn tại một số bất cập

Danh mục hàng DTQG còn nhiều bất cập, nhỏ lẻ và dàn trải, nhiều mặt hàng có tính năng kỹ thuật không phù hợp với sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tiến bộ khoa học công nghệ, đảm bảo quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới. Tại Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020, các loại tài nguyên thiên nhiên quốc gia quan trọng (nguồn tài nguyên không tái tạo) đã được định hướng bố trí từng bước đưa vào DTQG. Tuy nhiên, giai đoạn vừa qua chưa thực hiện được định hướng này do chưa xác định được danh mục và phân công cụ thể cho các bộ, ngành để triển khai thực hiện.

Mức bố trí NSNN để mua thêm hàng DTQG còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu

Ngân sách nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, do đó, việc cân đối chi cho DTQG hằng năm còn tùy thuộc vào cân đối chung của NSNN, mới đáp ứng được khoảng 40 - 50% so với nhu cầu. Việc bố trí vốn mua bù các mặt hàng đã xuất cấp theo quy định của Luật DTQG còn mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến quá trình thanh toán vốn mua hàng, nhất là các mặt hàng mang tính thời vụ như lương thực, hạt giống cây trồng. Tuy hằng năm NSNN đã cân đối bố trí vốn từ nguồn chi thường xuyên để đảm bảo nhiệm vụ mua gạo hỗ trợ cho học sinh ở các trường có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn, xuất hỗ trợ dân di cư, hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng, nhưng mức bố trí còn chưa đáp ứng được yêu cầu, thường xuyên phải trình cấp có thẩm quyền bổ sung trong năm.

Hệ thống kho DTQG còn chưa được bố trí vốn đầu tư theo đúng quy hoạch được phê duyệt

Nguồn vốn bố trí cho đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn vừa qua còn thấp, mới chỉ đạt 21% so với nhu cầu vốn đầu tư theo quy hoạch phê duyệt. Nguồn vốn bố trí cho cải tạo, sửa chữa kho còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đến nay, hệ thống kho còn phân tán, nhiều điểm kho xây đã lâu, xuống cấp, có vị trí không thuận lợi về mặt giao thông. Một số bộ, ngành không có đơn vị DTQG trực thuộc có năng lực, phải thuê các doanh nghiệp bảo quản hàng DTQG theo quy định của Luật DTQG nên phụ thuộc vào vị trí kho hiện có của doanh nghiệp, không chủ động bố trí được theo quy hoạch đã phê duyệt.

Xuất cấp hàng DTQG

Quá trình trình cấp có thẩm quyền ra quyết định xuất cấp hàng DTQG vẫn còn tồn tại một số bất cập như thời gian từ khi trình cấp có thẩm quyền đến khi ra quyết định xuất cấp còn kéo dài. Do đó, một số mặt hàng khi có quyết định xuất cấp, thực hiện xuất cấp cho địa phương thì đã không còn đảm bảo tính kịp thời, đặc biệt là các mặt hàng có tính thời vụ như hạt giống cây trồng. Ngoài ra, cán bộ công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về DTQG còn ít, tổ chức thanh tra trong ngành DTQG đang từng bước được hoàn thiện, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

Nguyên nhân của hạn chế tồn tại và bài học kinh nghiệm

Nguyên nhân

Công tác xây dựng cơ chế chính sách DTQG chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, đặc biệt là trong công tác xây dựng quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế kỹ thuật hàng DTQG. Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cho hoạt động DTQG còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào khả năng bố trí từ NSNN hằng năm. Công tác phối hợp, rà soát để trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh, cơ cấu lại danh mục hàng DTQG chưa được thường xuyên.

Hệ thống kho DTQG còn lạc hậu, phân tán, vốn đầu tư cho xây dựng hệ thống kho còn nhỏ lẻ; vốn đầu tư cho xây dựng mới, vốn sửa chữa rất hạn chế; nguồn vốn bố trí cho đầu tư chưa phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt. Điều kiện để đảm bảo cho công tác quản lý DTQG cũng còn hạn chế như: kinh phí bảo quản bố trí chưa chủ động, chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác DTQG còn lạc hậu.

Một số bộ, ngành, địa phương còn chưa quan tâm, chú trọng đến công tác DTQG. Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức làm công tác quản lý DTQG còn nhiều hạn chế; một số cán bộ, công chức làm công tác quản lý DTQG còn kiêm nhiệm nhiều việc, thiếu tập trung, chủ động trong việc quản lý, điều hành hoạt động DTQG. Ngoài ra, các chính sách thúc đẩy công tác xã hội hóa DTQG chưa được ban hành, do đó chưa huy động được nguồn lực xã hội để tăng cường, bổ sung tiềm lực cho DTQG.

Bài học kinh nghiệm

Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế chính sách pháp luật về DTQG phải đồng bộ, trong đó quy định hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với hàng DTQG cần sớm được xây dựng và ban hành làm căn cứ cho việc xây dựng dự toán, triển khai thực hiện đảm bảo việc sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả.

Để tăng cường nguồn lực DTQG và sử dụng có hiệu quả NSNN, cần thực hiện tốt từ khâu rà soát, đề xuất và trình cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh, bổ sung những mặt hàng chiến lược, thiết yếu, cần thiết hoặc loại bỏ những mặt hàng không còn phù hợp ra khỏi danh mục chi tiết hàng DTQG đến khâu xây dựng kế hoạch DTQG 5 năm, hằng năm và kế hoạch đầu tư phát triển trung hạn. Việc duy trì lực lượng DTQG đủ mạnh, cơ cấu danh mục hợp lý nhằm sẵn sàng xuất cấp khi có tình huống đột xuất, cấp bách xảy ra là cần thiết và phù hợp với tiến trình phát triển KT - XH của đất nước. Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng mô hình dự báo nhu cầu DTQG trên toàn quốc và trên các vùng chiến lược KT - XH.

Để phát huy được hiệu quả quản lý, sử dụng hàng DTQG, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, chính quyền địa phương với các cơ quan DTQG chuyên trách ở trung ương trong việc đánh giá, đề xuất những nhu cầu cần xuất cấp hỗ trợ tại địa phương, để tổng hợp, nghiên cứu, xây dựng chiến lược, quy hoạch đạt hiệu quả cao, đáp ứng tốt các yêu cầu vùng, miền, cũng như công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về DTQG.

Hoạt động DTQG phải luôn được phát triển và đổi mới, phù hợp với tình hình phát triển KT - XH của đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế. Để hoạt động DTQG được vận hành thông suốt, hoạt động hiệu lực, hiệu quả thì công tác quản lý DTQG tại các bộ, ngành quản lý hàng DTQG cần phải được tổ chức tốt, từ việc bố trí cơ quan quản lý, đến cán bộ làm công tác DTQG. Do vậy, việc kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý hàng DTQG rất cần thiết.

Nguồn nhân lực là nhân tố trọng yếu và đóng vai trò quyết định đến việc duy trì hoạt động và phát triển DTQG. Tuy nhiên, tại các bộ, ngành bố trí cán bộ làm công tác dự trữ đa phần là kiêm nhiệm; cán bộ làm cơ chế chính sách, thanh tra, nghiên cứu khoa học chưa có cơ chế chính sách khuyến khích hỗ trợ cho cán bộ công chức nghiên cứu khoa học. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực DTQG bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ DTQG là nhiệm vụ cấp bách hiện nay.

Với sự phát triển về khoa học công nghệ, đặc biệt cùng với công cuộc xây dựng chính phủ điện tử, nền kinh tế số và sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển khoa học - công nghệ trong quản lý, bảo quản hàng DTQG để kéo dài thời gian bảo quản là yêu cầu cấp thiết, đảm bảo cho sự phát triển vững mạnh của ngành DTQG.

Việc duy trì mối liên hệ truyền thống giữa các nước trong khối ASEAN và tăng cường hợp tác quốc tế, học tập kinh nghiệm về DTQG với các nước có nền kinh tế phát triển, nền công nghệ tiên tiến không chỉ là xu thế mà là đòi hỏi bắt buộc phải có trong tiến trình hội nhập và phát triển. Do đó, giai đoạn tới cần mở rộng hợp tác, quan hệ với các nước tiên tiến trên thế giới để nghiên cứu, tiếp thu và chuyển giao công nghệ bảo quản hàng DTQG, công nghệ xây dựng hệ thống kho DTQG.

2. Định hướng Chiến lược phát triển Dự trữ quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020, Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 cần xây dựng dựa trên một số quan điểm, mục tiêu và định hướng cụ thể.

Quan điểm

Các quan điểm của Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020 cần được tiếp tục kế thừa, cụ thể:

(i) Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược của Nhà nước để đáp ứng mục tiêu quy định tại Luật DTQG và các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.

(ii) Hoạt động DTQG có vị trí và vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững, bảo đảm ổn định chính trị, KT - XH của đất nước; luôn được phát triển và đổi mới, phù hợp với tình hình phát triển KT - XH của đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế.

(iii) Chi tăng DTQG hằng năm thuộc ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật.

(iv) Tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia hoạt động DTQG, đảm bảo sẵn sàng, chủ động đối phó với mọi tình huống cấp bách, dưới sự chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước với phương châm “4 tại chỗ”; đáp ứng kịp thời khi tình huống xảy ra.

(v) Dự trữ quốc gia là dự trữ vật tư, thiết bị, hàng hóa do Nhà nước quản lý, nắm giữ. Hàng DTQG được quản lý, sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng quy định của pháp luật; sau khi xuất ra phải được bù lại đầy đủ, kịp thời.

(vi) Hàng DTQG được bố trí ở các khu vực, địa bàn chiến lược trong cả nước với những mặt hàng phù hợp, kịp thời đáp ứng yêu cầu trong mọi tình huống đột xuất, cấp bách.

Mục tiêu

Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực DTQG. Đồng thời, xây dựng lực lượng DTQG có quy mô đủ mạnh, danh mục mặt hàng chiến lược, thiết yếu để sẵn sàng, chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.

Ngoài ra, Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2030, tầm nhìn 2040 còn có các mục tiêu cụ thể:

(i) Đến năm 2030, tổng mức DTQG đạt khoảng 0,8 - 1% GDP; định hướng đến năm 2040 đạt khoảng 1,5 - 2% GDP.

(ii) Hệ thống kho DTQG được xây dựng hoàn chỉnh theo hướng tiên tiến, hiện đại, quy mô lớn, tập trung tại các vùng chiến lược trong cả nước; phù hợp với điều kiện KT - XH, quốc phòng, an ninh và thuận lợi trong quá trình nhập, xuất hàng DTQG.

(iii) Công nghệ bảo quản tiên tiến, hiện đại được áp dụng phù hợp với điều kiện khí hậu và KT - XH của Việt Nam nhằm kéo dài thời hạn lưu kho bảo quản, đảm bảo chất lượng, giảm hao hụt hàng DTQG, nâng cao năng suất lao động và hạn chế ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại trong quản lý, điều hành hoạt động DTQG.

(iv) Nguồn nhân lực DTQG được phát triển, bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ DTQG.

(v) Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật hàng DTQG cần được xây dựng và hoàn thiện cho phù hợp hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn trong nước, khu vực và quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo quản hàng DTQG.

Định hướng

Danh mục chi tiết hàng DTQG và phân công cơ quan quản lý cần được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 94/2013/NĐ-CP ngày 21/8/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật DTQG và Nghị định số 128/2015/NĐ-CP ngày 15/12/ 2015 sửa đổi, bổ sung Danh mục chi tiết hàng DTQG và phân công cơ quan quản lý hàng DTQG ban hành kèm theo Nghị định số 94/2013/NĐ-CP ngày 21/8/2013 của Chính phủ.

(i) Lương thực: Đến năm 2030 giữ mức dự trữ hằng năm ổn định khoảng 500 nghìn tấn (quy thóc). Giai đoạn đến năm 2040, căn cứ tình hình thực tế để trình cấp có thẩm quyền quyết định mức tăng cụ thể.

(ii) Xăng dầu thành phẩm: Mức DTQG đến năm 2030, định hướng đến năm 2040 theo quy định tại Quyết định số 1030/QĐ-TTg ngày 13/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035.

(iii) Vật tư, trang thiết bị ứng phó thiên tai, thảm họa và tìm kiếm cứu nạn: Mức dự trữ theo Quyết định số 1041/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án quy hoạch tổng thể lĩnh vực ứng phó sự cố và tìm kiếm cứu nạn đến năm 2020 và dự trữ một số mặt hàng khác để đáp ứng nhu cầu xuất cấp, sử dụng của các bộ, ngành, địa phương đến năm 2030, định hướng đến năm 2040. Mức dự trữ cụ thể được xây dựng trong kế hoạch 5 năm, hằng năm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

(iv) Muối ăn: Sử dụng lượng tồn kho hiện nay để xuất cấp cứu trợ, hỗ trợ cho nhân dân khi có tình huống đột xuất, cấp bách xảy ra hoặc xuất giảm theo quyết định của cấp có thẩm quyền; trong giai đoạn tới không bố trí kế hoạch mua tăng, mua bù muối ăn.

(v) Các mặt hàng DTQG phục vụ nông nghiệp: Đến năm 2030, thuốc bảo vệ thực vật giữ mức ổn định khoảng 600 tấn/năm; vắc xin thú y các loại đạt 10 triệu liều; hóa chất sát trùng cho gia súc, gia cầm 1 triệu lít; hóa chất sát trùng cho nuôi trồng thủy sản 5 nghìn tấn; hạt giống lúa đạt 15 nghìn tấn/năm; hạt giống ngô 1,7 nghìn tấn/năm và hạt giống rau 200 tấn/năm. Đến năm 2040, thuốc bảo vệ thực vật giữ mức ổn định khoảng 600 tấn/năm; vắc xin thú y các loại đạt 12 triệu liều; hóa chất sát trùng cho gia súc, gia cầm 1,2 triệu lít; hóa chất sát trùng cho nuôi trồng thủy sản 7 nghìn tấn; hạt giống lúa đạt 18 nghìn tấn/năm; hạt giống ngô 2 nghìn tấn/năm; hạt giống rau 250 tấn/năm.

(vi) Thuốc phòng, chống dịch bệnh cho người; hóa chất khử khuẩn, khử trùng xử lý nguồn nước: Mức DTQG đảm bảo nhu cầu phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh.

(vii) Các mặt hàng vật tư, thiết bị y tế: Mức DTQG từng bước đáp ứng nhu cầu phòng, chống dịch bệnh và cấp cứu cho người.

(viii) Các mặt hàng phục vụ quốc phòng, an ninh: Ưu tiên tăng cường DTQG các mặt hàng chiến lược, thiết yếu với mức bố trí tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung của toàn ngành; đảm bảo đáp ứng yêu cầu giữ gìn quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và toàn vẹn lãnh thổ.

(ix) Các mặt hàng phục vụ đảm bảo giao thông, vận tải, thông tin, liên lạc, phát thanh truyền hình: Mức DTQG đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng ngành, lĩnh vực đề ra trong giai đoạn.

Đối với bố trí nguồn lực để thực hiện mục tiêu, định hướng đã đề ra, hằng năm, ưu tiên bố trí dự toán chi ngân sách trung ương để tăng mức DTQG theo khả năng ngân sách trung ương. Ngoài ra, ngân sách cần được bố trí tăng hằng năm cho DTQG khi ngân sách trung ương có vượt dự toán được giao. Đồng thời, tăng cường bố trí NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng, kho DTQG theo quy hoạch được phê duyệt.

Đối với công nghệ bảo quản, phát triển công nghệ thông tin DTQG, cần nghiên cứu, áp dụng, chuyển giao công nghệ bảo quản theo hướng tiên tiến; hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và định mức kinh tế - kỹ thuật hàng DTQG; từng bước đổi mới kỹ thuật và đưa các giải pháp công nghệ mới vào công tác bảo quản hàng DTQG. Phát triển công nghệ thông tin đảm bảo hiện đại hóa hoạt động DTQG; xây dựng hệ thống công nghệ thông tin quản lý hàng DTQG, bảo đảm tin học hóa quy trình nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản hàng DTQG.

Bên cạnh đó, các điểm kho DTQG cần được xây dựng theo quy hoạch tổng thể hệ thống kho DTQG được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hệ thống kho DTQG cần được hoàn thiện với trang thiết bị hiện đại, quy mô tập trung, đảm bảo hình thành các vùng chiến lược phù hợp với điều kiện về KT - XH, quốc phòng, an ninh của vùng, lãnh thổ. Các quy định tiêu chuẩn kho DTQG cũng cần được xây dựng và ban hành phù hợp với yêu cầu quản lý từng loại hàng và điều kiện phát triển của khoa học - công nghệ bảo quản.

Tổ chức bộ máy quản lý, điều hành DTQG cần được bố trí ở trung ương và các khu vực, địa bàn chiến lược trong cả nước, bao gồm: (i) Cơ quan quản lý DTQG chuyên trách (Tổng cục DTNN) thuộc Bộ Tài chính được tổ chức theo hệ thống dọc, theo mô hình ba cấp quản lý từ trung ương đến các vùng chiến lược trên địa bàn cả nước, gồm: Cơ quan Tổng cục DTNN ở trung ương, Cục DTNN khu vực và chi cục DTNN khu vực; (ii) Các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và bộ phận làm công tác DTQG kiêm nhiệm tại bộ, ngành quản lý hàng DTQG.

Ngành DTQG Việt Nam cũng cần mở rộng quan hệ hợp tác với các nước tiên tiến trên thế giới để học tập, nghiên cứu, tiếp thu và chuyển giao ứng dụng công nghệ tiên tiến bảo quản hàng DTQG, công nghệ xây dựng hệ thống kho DTQG.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

2. Chính phủ (2013), Nghị định số 94/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh DTQG.

3. Chính phủ (2015), Nghị định số 128/2015/NĐ-CP ngày 15/12/2015 sửa đổi, bổ sung danh mục chi tiết hàng DTQG và phân công cơ quan quản lý hàng DTQG.

4. Chính phủ (2018), Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18/6/2018 của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai.

5. Quốc hội (2012), Luật Dự trữ quốc gia, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Quốc hội (2015), Luật Ngân sách nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030.

8. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 2091/QĐ-TTg ngày 28/12/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020.

9. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 1041/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 phê duyệt Đề án Quy hoạch tổng thể lĩnh vực ứng phó sự cố và tìm kiếm cứu nạn đến năm 2020.

10. Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 1030/QĐ-TTg ngày 13/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

11. Thủ tướng Chính phủ (2019), Quyết định số 36/2019/QĐ-TTg ngày 25/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục DTNN thuộc Bộ Tài chính.

Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam số 1/2021

*1 Quyết định số 94/QĐ-TTg ngày 17/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ.