Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020

Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020 18/08/2021 14:41:00 891

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020

18/08/2021 14:41:00

Tổng cục Hải Quan, Bộ Tài chính

Trong 10 năm qua, toàn ngành Hải quan đã nỗ lực tập trung nguồn lực, quyết liệt triển khai công tác cải cách hiện đại hóa nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 20201. Đến nay, các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược đã cơ bản hoàn thành, với những thành tựu to lớn, mang tính đột phá, đưa cơ quan hải quan trở thành một trong những đơn vị đi đầu về cải cách thủ tục hành chính (TTHC), ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới phương thức quản lý. Nhiều kết quả đạt được đã có tác động và sức lan tỏa lớn trong xã hội, tạo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp trong xuất - nhập khẩu hàng hóa, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan.

Từ khóa: Chiến lược hải quan, kết quả chiến lược hải quan, định hướng phát triển hải quan.

Over the past 10 years, the Customs has made efforts to gather resources, drastically implement modernization reform to successfully implement the Customs Development Strategy to 2020. So far, the targets, indications set out in the strategy have been basically completed, with great and breakthrough achievements making the Customs becomes one of the leading units in administrative procedure reform, information technology application, and management method innovation. A number of achievements have had a great impact and spread in society, create favorable conditions for the business community in goods importing and exporting, contribute to improving national competitiveness, and improve the efficiency of the state management on customs.

Keywords: Customs Development Strategy, results of Customs Development Strategy, development orientation of customs.

Ngày nhận bài: 14/12/2020

Ngày nhận phản biện, đánh giá và sửa chữa: 28/12/2020.

Ngày duyệt đăng: 11/01/2021

1. Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra

Cải cách thể chế quản lý nhà nước về hải quan

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan là một trong những mục tiêu chủ yếu trong cải cách thể chế quản lý nhà nước về hải quan. Trong giai đoạn thực hiện Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, thể chế quản lý nhà nước về hải quan đã từng bước được xây dựng, hoàn thiện và đạt được một số kết quả nổi bật sau:

(i) Luật Hải quan số 54/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đã đáp ứng các yêu cầu đổi mới toàn diện hoạt động hải quan trên cơ sở nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện phương pháp quản lý hải quan hiện đại theo nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro trong toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; mở rộng và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trang thiết bị và công nghệ hiện đại trong hoạt động nghiệp vụ; xây dựng đội ngũ công chức hải quan chuyên nghiệp, chuyên sâu trong từng lĩnh vực; ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai phổ biến, rộng rãi tại các đơn vị hải quan; Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN đã được triển khai, tạo một bước ngoặt mới trong công tác hiện đại hóa hải quan.

(ii) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13, trong đó có quản lý thuế đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu, đáp ứng các yêu cầu: Đẩy mạnh cải cách TTHC trong hoạt động quản lý thuế; thúc đẩy công tác hiện đại hóa hệ thống quản lý thuế hải quan theo hướng thực hiện áp dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro, đẩy mạnh quản lý thuế điện tử, tăng cường vai trò của tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện quyền lợi và vụ đối với thuế nhà nước; tăng cường các biện pháp quản lý kiểm tra, giám sát, hậu kiểm.

(iii) Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 đáp ứng yêu cầu thực thi các cam kết quốc tế và điều ước quốc tế về thuế xuất - nhập khẩu; sửa đổi nguyên tắc xây dựng, ban hành biểu thuế, thuế suất phù hợp với những yêu cầu của bối cảnh hội nhập, cắt giảm thuế quan theo lộ trình tại các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia, vũng lãnh thổ và nền kinh tế; khuyến khích và bảo hộ hợp lý sản xuất - kinh doanh trong nước; đảm bảo tiêu chí đơn giản, thuận lợi cho người nộp thuế; góp phần thực hiện cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

(iv) Hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật quản lý nhà nước về hải quan luôn được ngành Hải quan quan chủ động, tích cực xây dựng, tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành, đảm bảo thực thi toàn diện, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan. Các văn bản hướng dẫn đã chi tiết, cụ thể cách thức, phương pháp… áp dụng pháp luật và tuân thủ theo đúng quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Nhờ đó, pháp luật quản lý nhà nước về hải quan trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 được đánh giá là toàn diện, đầy đủ, kịp thời. Qua đó, hoạt động xuất - nhập khẩu hàng hóa, phương tiện vận tải xuất - nhập cảnh hợp pháp được thuận lợi hơn, đồng thời ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại.

Nghiệp vụ hải quan

Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan

[1] Quản lý hải quan đáp ứng chuẩn mực quốc tế.

Từ năm 2011 đến nay, với nỗ lực cải cách thủ tục và chuẩn hóa công tác quản lý hải quan đáp ứng yêu cầu hải quan hiện đại, phù hợp với chuẩn mực hải quan quốc tế, các chế độ quản lý hải quan đã được chuẩn hóa phù hợp với các quy định tại Công ước Kyoto sửa đổi.

Với việc triển khai toàn diện thủ tục hải quan điện tử, thực hiện việc trao đổi thông tin trước khi hàng đến là một kết quả cải cách đột phá. Hệ thống VNACSS/VCIS đã góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hải quan theo hướng hiện đại. Đến nay, thủ tục hải quan chủ yếu được thực hiện bằng phương thức điện tử trên hệ thống VNACCS/VCIS tại 100% các cục hải quan tỉnh, thành phố, 100% các chi cục hải quan trên cả nước với 100% các loại hình hải quan cơ bản, 99% kim ngạch xuất - nhập khẩu, 99% doanh nghiệp đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử; cơ sở dữ liệu được xử lý tập trung tại cấp Tổng cục Hải quan, thời gian tiếp nhận và thông quan đối với luồng xanh chỉ từ 1 - 3 giây; đối với luồng vàng thời gian xử lý và kiểm tra hồ sơ không quá 2 giờ làm việc.

Hệ thống thông quan hàng hóa tự động đã mang lại hiệu quả rõ rệt và lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp xuất - nhập khẩu và công tác quản lý nhà nước về hải quan. Cùng với đó, việc triển khai thực hiện áp dụng cơ chế doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt về thủ tục và an ninh theo các chuẩn mực của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO); các công nghệ và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại được đã áp dụng trong kiểm tra, giám sát hải quan.

[2] Thời gian thông quan hàng hóa.

Những nỗ lực của ngành Hải quan trong thực hiện Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam. Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (WB), môi trường kinh doanh của Việt Nam xếp thứ 70/190 quốc gia (năm 2019), tăng 21 bậc so với năm 2015 (91/190 quốc gia). Trong đó, năm 2019, thời gian giao dịch thương mại qua biên giới (bao gồm thời gian làm các thủ tục tại cửa khẩu và thời gian chuẩn bị hồ sơ) đối với hàng nhập khẩu là 132 giờ, giảm 38 giờ so với năm 2015 (năm 2015 là 170 giờ); đối với hàng xuất khẩu là 105 giờ, giảm 35 giờ so với năm 2015 (năm 2015 là 140 giờ).

Ngoài ra, Báo cáo “Ưu tiên cải cách nhằm giảm chi phí thương mại và tăng cường năng lực cạnh trạnh của Việt Nam” của WB cho thấy: (i) Thời gian thuộc trách nhiệm của cơ quan hải quan chỉ chiếm 11% đối với hàng nhập khẩu, 4% đối với hàng xuất khẩu trong tổng thời gian xuất - nhập khẩu qua biên giới; (ii) Thời gian thuộc trách nhiệm của đơn vị xếp dỡ, lưu kho tại cảng và logistic chiếm 28% đối với hàng nhập và 50% đối với hàng xuất; (iii) Thời gian thuộc trách nhiệm của cơ quan kiểm tra chuyên ngành là rất lớn: Thời gian tuân thủ về chứng từ đối với kiểm tra chuyên ngành (thời gian chuẩn bị hồ sơ xuất - nhập khẩu) và thời gian tuân thủ tại cửa khẩu đối với cơ quan ngoài hải quan (thời gian kiểm tra và ra báo cáo kiểm tra chất lượng) chiếm 61% đối với hàng hóa nhập khẩu, 46% đối với hàng hóa xuất khẩu.

[3] Thực hiện doanh nghiệp ưu tiên.

Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp được áp dụng từ năm 2011. Đến năm 2020, các quy định về doanh nghiệp ưu tiên đã tương đối đầy đủ tại Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 59/2018/NĐ-CP, Thông tư số 72/2015/TT-BTC. Tổng số doanh nghiệp ưu tiên được công nhận là 70 doanh nghiệp, chiếm kim ngạch 40% tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu cả nước. Cùng với đó, Tổng cục Hải quan đã và đang thực hiện đàm phán thỏa thuận công nhận lẫn nhau về chương trình doanh nghiệp ưu tiên với Hải quan Hàn Quốc, quốc gia đầu tiên Việt Nam tiến hành đàm phán MRA/AEO.

[4] Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra chuyên ngành

Trong những năm qua, Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) đã chủ động phối hợp với các bộ đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu theo yêu cầu tại các Nghị quyết số 19/NQ-CP trong các năm 2014 - 2018 và Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019, 2020 của Chính phủ. Công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu đã có nhiều chuyển biến, nhiều văn bản được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới đáp ứng được yêu cầu, được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận và đánh giá cao.

Tính đến ngày 30/6/2020, các bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung 84/87 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và kiểm tra chuyên ngành (chiếm 97%) theo yêu cầu tại Quyết định số 2026/QĐ-TTg và 26/29 văn bản (chiếm 90%) theo yêu cầu tại Quyết định số 1254/QĐ-TTg; ban hành 47/53 danh mục hàng hóa kèm mã số HS; ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn cho 18/22 nhóm hàng theo yêu cầu tại Quyết định số 1254/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, ngành Hải quan đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên ngành có liên quan thành lập địa điểm kiểm tra chuyên ngành tập trung để thực hiện hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu thuộc diện phải kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu. Đến nay đã thành lập được 10 địa điểm kiểm tra chuyên ngành tập trung tại các cửa khẩu có lưu lượng hàng hóa xuất - nhập khẩu lớn thuộc các cục hải quan tỉnh, thành phố. Ngoài ra đã xây dựng Đề án cải cách kiểm tra chuyên ngành theo hướng giao cơ quan hải quan là đầu mối thực hiện kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu (trừ các mặt hàng liên quan đến an ninh quốc phòng, kiểm dịch). Tại Đề án đề xuất Mô hình mới về kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu với nhiều nội dung cải cách hơn.

[5] Thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN.

Tổng cục Hải quan được giao nhiệm vụ là Cơ quan thường trực của Ủy ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại (Ủy ban Chỉ đạo 1899). Đến ngày 30/6/2020 đã có 13 bộ, ngành tham gia kết nối; 198 TTHC được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia xấp xỉ 3,2 triệu bộ hồ sơ và trên 39,5 nghìn doanh nghiệp tham gia. Thực hiện điện tử hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc kết nối, trao đổi thông tin liên quan đến thực hiện thủ tục xuất - nhập khẩu với các nước trong ASEAN. Việt Nam đã kết nối chính thức Cơ chế một cửa ASEAN để trao đổi thông tin chứng nhận xuất xứ mẫu D điện tử với 9 nước ASEAN: Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Brunei, Campuchia, Myanmar, Lào và Philippines. Đến ngày 30/6/2020, tổng số C/O Việt Nam nhận từ các nước ASEAN là 234.953 C/O, tổng số C/O Việt Nam gửi sang các nước là 424.270 C/O. Với đối tác ngoài ASEAN, thực hiện trao đổi thông điệp thử nghiệm tờ khai hải quan xuất khẩu; đàm phán để trao đổi chứng nhận xuất xứ với Liên minh kinh tế Á - Âu; chứng nhận xuất xứ điện tử với Hàn Quốc; chứng nhận kiểm dịch điện tử với New Zealand.

[6] Giám sát hải quan tự động tại các cảng biển, hàng không.

Hiện đại hóa công tác giám sát hàng hóa, ngành Hải quan đã triển khai Hệ thống quản lý giám sát hải quan tự động (Hệ thống VASSCM) thông qua việc kết nối, trao đổi thông tin với doanh nghiệp kinh doanh cảng, sân bay, kho bãi, địa điểm chịu sự giám sát hải quan. Việc triển khai hệ thống VASSCM, hàng hóa trong khu vực giám sát của Hải quan được giám sát tự động, nhanh chóng, không bỏ sót trong điều kiện tiết kiệm được nguồn nhân lực; đơn giản hóa, hài hòa thủ tục hải quan với thủ tục của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng thông qua áp dụng hệ thống công nghệ thông tin tập trung để quản lý, giám sát; hồ sơ, thủ tục để đưa hàng ra khỏi kho, bãi, cảng được thực hiện đơn giản hơn; giảm tiếp xúc giữa hải quan và doanh nghiệp; giảm thời gian đi lại làm thủ tục của doanh nghiệp xuất - nhập khẩu; khắc phục được tình trạng ùn tắc tại cổng cảng/kho, bãi.

Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý nhà nước về hải quan

Trong những năm qua, việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan đã có bước phát triển nhanh. Các biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, tăng cường kiểm tra, kiểm soát các đối tượng trọng điểm, hàng hóa có độ rủi ro cao được áp dụng đã hài hòa giữa yêu cầu tạo thuận lợi cho hoạt động xuất - nhập khẩu và đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan, thúc đẩy việc thông quan nhanh hàng hóa, giảm thiểu các chi phí phát sinh cho cơ quan hải quan và doanh nghiệp. Các biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ quản lý rủi ro ngày càng được chú trọng, từng bước phát triển có chiều sâu, được triển khai đồng bộ, thống nhất, đảm bảo vai trò xử lý phân luồng thông suốt 24/7, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cho việc tự động hóa, điện tử hóa thủ tục hải quan. Số liệu thống kê cho thấy, thời gian qua tỷ lệ các lô hàng phải kiểm tra đã giảm đáng kể qua các năm, từ 12,62% (năm 2011) xuống còn 5,17% (năm 2020).

Hoạt động kiểm tra sau thông quan

Từ năm 2011 đến ngày 15/9/2020, ngành đã thực hiện 49.607 cuộc kiểm tra sau thông quan, số tiền thực thu vào ngân sách nhà nước (NSNN) cũng tăng tương ứng hơn 5 lần (năm 2011 thu 413,7 tỷ đồng đến năm 2019 là 2.106 tỷ đồng (từ ngày 01/01/2020 đến ngày 15/9/2020 là 840 tỷ đồng).

Công tác quản lý thuế

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu được sửa đổi, bổ sung, thay thế đã đáp ứng yêu cầu hội nhập, khuyến khích phát triển sản xuất - kinh doanh, xuất khẩu, cải thiện môi trường kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế quan, sử dụng hàng rào kỹ thuật, áp dụng đầy đủ Hiệp định trị giá GATT 1994, Công ước HS được triển khai đã nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế..., đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan hải quan phối hợp với các ngân hàng thương mại để thực hiện thu nộp thuế thông qua Cổng thông tin điện tử Hải quan; từ đó giúp giảm đối chiếu thủ công, giảm thiểu thời gian xác định hoàn thành nghĩa vụ thuế, tiết kiệm chi phí cho cả người nộp thuế và cơ quan hải quan, góp phần giảm thời gian, chi phí thông quan hàng hóa... Trong giai đoạn 2011 - 2019, Tổng cục Hải quan đã thu nộp NSNN 2,38 triệu tỷ đồng; riêng giai đoạn 2014 - 2019 thu NSNN đạt và vượt số thu theo dự toán. Chính sách về thời hạn nộp thuế được sửa đổi tại Luật số 21/2012/QH13. Từ năm 2013 đến nay, số nợ thuế chuyên thu quá hạn của ngành Hải quan giảm dần qua các năm, tỷ lệ nợ chuyên thu quá hạn/tổng thu NSNN hằng năm đều giảm dần (năm 2012 chiếm 2,94%/tổng thu thì năm 2018 chỉ còn chiếm 1,68%/tổng thu). Công tác quản lý nợ ngày càng được chú trọng và đạt được nhiều kết quả khả quan, hạn chế nợ thuế (tỷ trọng nợ đọng thuế so với số thu hằng năm trong giai đoạn 2011 - 2020 đều không vượt quá 3%), góp phần huy động đầy đủ và kịp thời số thuế phải nộp vào NSNN, đàm bảo công bằng trong kinh doanh…

Từ năm 2012, cơ quan hải quan đã kết nối với các hệ thống công nghệ thông tin của các ngân hàng thương mại và Kho bạc Nhà nước để thực hiện thanh toán điện tử. Số thuế thu được từ phương thức điện tử chiếm hơn 90% số thu ngân sách của Tổng cục Hải quan. Cuối năm 2017, cơ quan hải quan đã triển khai Đề án nộp thuế điện tử và thông quan 24/7. Theo đó, doanh nghiệp có thể nộp tiền thuế vào mọi lúc, mọi nơi; đảm bảo thông tin nộp tiền được thanh khoản thuế kịp thời, chính xác; giảm thời gian nộp thuế, đồng thời thông quan hàng hóa ngay sau khi nộp thuế, qua đó rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục hải quan. Giai đoạn 2016 - 2020, ngành Hải quan đã tích cực phối hợp với các ngân hàng thương mại mở rộng triển khai thanh toán điện tử. Ngành Hải quan đã ký thỏa thuận hợp tác và thực hiện phối hợp thu với 39 ngân hàng thương mại, trong đó có 25 ngân hàng đã thực hiện thí điểm nộp thuế điện tử 24/7. Đến nay, số thu qua ngân hàng thương mại đạt 97% tổng số thu ngân sách trong đó thực hiện qua phương thức điện tử 24/7, đạt 5,34% tổng số thu NSNN. Qua đó rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu của doanh nghiệp xuống bằng mức trung bình của nhóm nước ASEAN-4 theo chỉ đạo của Chính phủ.

Công tác kiểm soát hải quan

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, hành vi buôn lậu, gian lận thương mại xuất hiện ngày càng nhiều với những thủ đoạn hết sức tinh vi, có tính tổ chức hơn. Trước xu thế và tình hình trên, lực lượng hải quan chuyên trách chống buôn lậu đã tổ chức lực lượng quản lý chặt chẽ các địa bàn trọng điểm, xác lập nhiều chuyên án, đấu tranh, ngăn chặn, bắt giữ, giải quyết dứt điểm nhiều hiện tượng nổi cộm, vụ việc buôn lậu, gian lận thương mại nghiêm trọng góp phần ổn định thị trường, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp có hoạt động xuất - nhập khẩu. Giai đoạn 2011 - 2020, toàn Ngành phát hiện bắt giữ gần 181 nghìn vụ, trị giá hàng vi phạm ước gần 12 nghìn tỷ đồng; ban hành hơn 175 nghìn quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, thu NSNN đạt gần 2.766 tỷ đồng; cơ quan hải quan đã ra quyết định khởi tố 358 vụ án hình sự, chuyển cơ quan khác 889 vụ kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền.

Công tác kiểm định hải quan

Tổng cục Hải quan đã nỗ lực thực hiện hoàn thành với khối lượng lớn về nghiệp vụ phân tích, phân loại hàng hóa xuất - nhập khẩu. Giai đoạn 2010 - 2018, Tổng cục Hải quan đã tiếp nhận phân tích, phân loại 128.445 mẫu. Kết quả phân tích phân loại trung bình đã làm thay đổi khoảng 43,2% số mẫu khai báo. 100% kết quả phân tích phân loại đã được sử dụng để thông quan hàng hóa; tạo sự tin cậy cao và đối trọng về kết quả giám định với một số tổ chức, cơ quan giám định ngoài Ngành.

Tổng cục Hải quan cũng đã triển khai thực hiện tốt công tác kiểm định hàng hóa xuất - nhập khẩu, tạo điều kiện thông quan nhanh và đúng quy định, không để phiền hà, khó khăn cho doanh nghiệp. Để phục vụ cho việc hiện đại hóa cơ sở vật chất, đáp ứng yêu cầu kiểm định hải quan hiện đại, ngành Hải quan đã được đầu tư trang thiết bị và năng lực tương đối hiện đại với 4 phòng thí nghiệm được công nhận là phòng thí nghiệm chuẩn Vilas. Song song với đó, để phục vụ linh hoạt và nhanh chóng cho công tác kiểm định, Tổng cục Hải quan đã trang bị 4 trạm kiểm định di động và các thiết bị phân tích chuyên dụng cầm tay để sẵn sàng kiểm tra hàng hóa ngay tại cửa khẩu.

Công nghệ thông tin và thống kê hải quan

Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và tự động hóa trong các lĩnh vực quản lý

Đến nay, ngành Hải quan đã xây dựng được một hệ thống công nghệ thông tin tập trung cấp tổng cục hoạt động ổn định, thống suốt, bao phủ và hỗ trợ hầu hết các lĩnh vực trọng yếu về quản lý hải quan như: thực hiện thủ tục hải quan, nộp thuế, quản lý hàng hóa tại cảng biển, quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, xử lý vi phạm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, quản lý nội ngành… phục vụ công tác quản lý nhà nước về hải quan.

Ngành Hải quan cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo, điều hành qua mạng nội bộ Net.Office. Ngoài ra, các hệ thống trong các lĩnh vực quản lý cán bộ, thi đua khen thưởng, tài chính, tài sản, xây dựng cơ bản… cũng được xây dựng và triển khai ứng dụng công nghệ để giao việc, đôn đốc thực hiện, tổ chức hội nghị trực truyến trong toàn Ngành. Việc ứng dụng phục vụ công tác quản lý nhà nước về hải quan đã góp phần hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của Tổng cục Hải quan.

Xây dựng trung tâm dữ liệu và xử lý dữ liệu cấp vùng cấp độ 2+, 3+ trở lên đảm bảo an ninh, an toàn 24/7

Ngành Hải quan đã đầu tư trang bị hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Hệ thống mạng diện rộng được bắt đầu triển khai từ năm 2003 kết nối giữa cơ quan tổng cục với một số cục hải quan trọng điểm để truyền, nhận số liệu phục vụ công tác thống kê nhà nước về hải quan; đến nay, trên 200 chi cục hải quan và 35 cục hải quan đều có mạng cục bộ và được nối mạng thông suốt với tổng cục và với hạ tầng truyền thông thống nhất ngành Tài chính. Ngoài ra, hệ thống mạng của cơ quan hải quan cũng đã được kết nối với cộng đồng doanh nghiệp, các bộ, ngành, hãng tàu, cảng vụ, ngân hàng thương mại… phục vụ cho thông quan điện tử và triển khai Cơ chế một cửa quốc gia.

Để đảm bảo an toàn, ngành Hải quan đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để nâng cao tính sẵn sàng và an ninh của hệ thống như triển khai ứng dụng bộ tiêu chuẩn ISO 27000 về an toàn thông tin cho hệ thống thông quan điện tử và một cửa quốc gia; xây dựng, ban hành các qui trình chính sách an ninh và kiểm tra chặt chẽ mức độ tuân thủ; đầu tư, nâng cấp hệ thống bảo mật trọng tâm tại Trung tâm dữ liệu và các hệ thống cốt lõi của Ngành, xây dựng bộ máy an ninh thông tin chuyên trách. Toàn bộ dữ liệu hải quan đều được sao lưu định kỳ. Các ứng dụng cốt lõi của ngành Hải quan đã được triển khai theo mô hình xử lý tập trung tại cấp độ tổng cục. Từ đó giúp cải thiện về tính thống nhất, tính kịp thời, tính đầy đủ do được truy xuất từ một nguồn dữ liệu. Việc tập trung hóa ứng dụng giúp giảm chi phí về đầu tư cũng như chi phí vận hành, bảo trì, nâng cấp hệ thống so với trước đây (hệ thống phân tán tại các chi cục và cục hải quan). Tổng cục Hải quan đã thực hiện đầu tư, xây dựng và thực hiện quản lý vận hành Trung tâm Dữ liệu hải quan hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế Tier 3 hoạt động liên tục 24/7, có khả năng mở rộng đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ và đảm bảo an ninh, an toàn dữ liệu cao. Ngoài ra, còn có 9 trung tâm dữ liệu tại các cục hải quan trọng điểm cũng được đầu tư, nâng cấp đóng vai trò là vùng mạng và chia tải cho tổng cục.

Thực hiện dịch vụ công trực tuyến

Trong thời gian vừa qua, Tổng cục Hải quan đã có rất nhiều nỗ lực và quyết tâm triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Đến nay, Tổng cục Hải quan đã cung cấp 198/223 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, chiếm 88,8% tổng số TTHC do Tổng cục Hải quan thực hiện, trong đó có 192 TTHC trong lĩnh vực hải quan đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 4 (đạt tỷ lệ 86,1%). Tổng cục Hải quan đã chủ động hoàn thành triển khai trên Module tích hợp (cài đặt tại hệ thống của Tổng cục Hải quan) đối với 70 dịch vụ công trực tuyến đã áp dụng dịch vụ công trực tuyến trên Cơ sở dữ liệu TTHC quốc gia.

Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan cũng đã nỗ lực nâng cao chất lượng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan thông qua việc vận hành Cổng thông tin điện tử hải quan và các trang thông tin điện tử của các cục hải quan tỉnh, thành phố, cung cấp 100% thông tin về quy trình thủ tục hải quan, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, các thông báo hướng dẫn nghiệp vụ, các cơ sở dữ liệu danh mục…; tiếp nhận và trả lời các vướng mắc trực tuyến từ phía người dân và doanh nghiệp.

Xây dựng cổng thông tin điện tử kết nối trao đổi thông tin với các cơ quan liên quan

Tổng cục Hải quan đã thực hiện kết nối, trao đổi thông tin giữa cơ quan hải quan với các cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp logistics, bảo hiểm và các dịch vụ khác có liên quan. Việc triển khai kết nối thông tin đã giúp nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần hoàn thành mục tiêu của Chính phủ nêu tại Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020, đồng thời thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại, thúc đẩy cải cách TTHC theo các Nghị quyết số 19/NQ-CP, Nghị quyết số 36a/NQ-CP, Nghị quyết số 35/NQ-CP và Nghị quyết số 01/NQ-CP.

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và triển khai Chính phủ điện tử

Nhận thức việc tiếp cận và chủ động ứng dụng những công nghệ mới nhất của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là chìa khóa để tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa hải quan, trong thời gian vừa qua, Tổng cục Hải quan đã nghiên cứu và từng bước ứng dụng các công nghệ của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong quản lý nhà nước về hải quan như: công nghệ internet kết nối vạn vật; phân tích dữ liệu lớn; công nghệ di động; công nghệ chuỗi khối... Đặc biệt, năm 2020, Tổng cục Hải quan đã ứng dụng thành công công nghệ kết nối internet vạn vật trong triển khai Hệ thống seal định vị để giám sát hàng hóa xuất - nhập khẩu được vận chuyển bằng container.

Bên cạnh những kết quả, thành tựu đã đạt được, việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành Hải quan cũng gặp không ít khó khăn, thách thức như:

(i) Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý hoạt động xuất - nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tương đối lớn, thay đổi thường xuyên, chậm được cắt giảm và còn có sự chồng chéo nhất định... tạo ra không ít khó khăn trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất - nhập cảnh, quá cảnh đối với cả công chức hải quan và cộng đồng doanh nghiệp.

(ii) Tính chất đa dạng, phức tạp của hàng hóa ra, vào Việt Nam ngày càng tăng. Trong khi đó, mặc dù các kết quả đạt được của công cuộc cải cải cách, phát triển hải quan đang từng bước được khẳng định, nhưng cũng chưa theo kịp tốc độ phát triển của thương mại thế giới, đặc biệt là thương mại xuyên biên giới. Do vậy, để hoàn thành nhiệm vụ, ngành Hải quan luôn phải nỗ lực và phấn đấu nhiều hơn nữa trên tất cả các phương diện mà đặc biệt là trong cải cách, phát triển hải quan.

(iii) Sau năm 2020, về cơ bản các FTA mà Việt Nam tham ra ký kết sẽ có hiệu lực, theo đó cắt giảm thuế quan sâu, rộng với hầu hết các loại hàng hóa xuất - nhập khẩu của Việt Nam, đặc biệt là các FTA thế hệ mới, bên cạnh việc cắt giảm thuế quan còn có yêu cầu đổi mới, cải cách thể chế quản lý nhà nước. Do đó, nhiệm vụ thu NSNN của ngành Hải ngày càng khó khăn.

(iv) Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, kinh tế số ngày càng chiến tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của thế giới, thương mại điện tử xuyên biên giới ngày càng phát triển mãnh mẽ. Quản lý nhà nước về hải quan trong tương lai không còn là quản lý hàng hóa đơn thuần mà sẽ xuất hiện nhiều loại hàng hóa mới (hàng hóa dạng số) của nền kinh tế số, tuyến đường vận chuyển đặc thù mới (ví dụ như đường internet). Nhiệm vụ đặt ra cho Hải quan Việt Nam là phải nhận diện sớm để có những bước chuẩn bị đầy đủ, để khi diễn ra có thể triển khai các nhiệm vụ quản lý nhà nước được chủ động hiệu quả.

(v) Công nghệ thay đổi liên tục, nhanh chóng. Do vậy, các công nghệ hiện đại ngành Hải quan đang áp dụng hiện nay có thể lạc hậu trong giai đoạn tới. Để có thể tối ưu hóa trong đầu tư, khai thác, sử dụng hiệu quả, không lãng phí khi nguồn lực còn hạn chế là một thách thức lớn với ngành Hải quan.

2. Định hướng Chiến lược phát triển Hải quan giai đoạn 2021 - 2030

Chiến lược phát triển Hải quan giai đoạn 2021 - 2030 hướng đến mục tiêu xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trên nền tảng hệ thống pháp luật đồng bộ, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong quản lý nhà nước về hải quan, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại hợp pháp, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội và bảo vệ lợi ích của quốc gia. Trong đó, mục tiêu chủ yếu gồm:

(i) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, ổn định, cụ thể, khả thi, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận với chi phí tuân thủ thấp, phù hợp các chuẩn mực quốc tế, đồng thời bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc ứng dụng công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Các quy định pháp luật về hải quan và pháp luật về thuế xuất - nhập khẩu đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu có tính gắn kết chặt chẽ, thống nhất bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan theo hướng hiện đại.

(ii) Thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa tuân thủ các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, áp dụng đồng bộ phương pháp quản lý hải quan hiện đại tại các khâu trước, trong và sau thông quan.

(iii) Cơ quan hải quan tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu, đồng thời là đầu mối thực hiện kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu theo quy định của pháp luật.

(iv) Tiếp tục xây dựng, đổi mới tổ chức bộ máy hải quan phù hợp với yêu cầu hiện đại, cơ cấu gọn nhẹ, tập trung, giảm đầu mối trung gian, đáp ứng nhu cầu quản lý của từng địa bàn và yêu cầu tinh giản, sử dụng biên chế hiệu quả. Ứng dụng công nghệ thông tin toàn diện trong việc quản lý cán bộ, công chức, đồng bộ với tiến trình xây dựng cơ quan hải quan điện tử, hướng đến cơ quan hải quan số.

(v) Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực sáng tạo dựa trên cơ chế cạnh tranh về tuyển dụng, chế độ đãi ngộ và đề bạt. Phát triển nguồn nhân lực tinh nhuệ, có trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu, làm chủ được công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, hoạt động liêm chính, được tổ chức, quản lý một cách khoa học, gắn nhu cầu thực tiễn của vị trí công tác với năng lực từng cá nhân.

(vi) Hoàn thành xây dựng hải quan điện tử thông minh, đến năm 2030 hoàn thành xây dựng hải quan số đảm bảo thống nhất với kiến trúc Chính phủ số trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong quản lý nhà nước về hải quan.

(vii) Triển khai Cơ chế một cửa quốc gia kết nối đầy đủ và chia sẻ thông tin giữa các bộ, ngành, tổ chức có liên quan trong hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất - nhập cảnh, quá cảnh; triển khai Cơ chế một cửa ASEAN và cơ chế kết nối thông tin với một số đối tác thương mại ngoài ASEAN để trao đổi đầy đủ về phạm vi, số lượng các chứng từ điện tử phục vụ cho tạo thuận lợi thương mại xuyên biên giới.

Đặc biệt, một số chỉ tiêu quan trọng như: 100% các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan sẽ được chuyển sang dạng dữ liệu điện tử; triển khai mô hình địa điểm kiểm tra hồ sơ hải quan tập trung tại các vùng, tỉnh, thành phố có cửa khẩu đường bộ, đường hàng không, đường thủy nội địa, cảng biển quốc tế; 100% cảng biển, cảng sân bay và của khẩu đường bộ quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng thủy nội địa được trang bị hệ thống soi chiếu hàng hóa, hành lý, hệ thống giám sát camera và các thiết bị hỗ trợ trong công tác kiểm tra, giám sát hải quan. Kết quả, hình ảnh, thông tin soi chiếu được truyền về trực tiếp tại trung tâm xử lý tập trung của cơ quan hải quan; 100% hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan bằng container được giám sát bằng seal định vị điện tử, hình ảnh kết nối về trung tâm xử lý tập trung của cơ quan hải quan, chống gian lận thương mại, buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; 100% các cửa khẩu đường bộ triển khai hệ thống tiếp nhận và xử lý thông tin khai trước về hàng hóa xuất - nhập khẩu trước khi phương tiện vận chuyển hàng hóa qua biên giới; 100% các doanh nghiệp ưu tiên, doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật hải quan thực hiện việc kết nối chia sẻ dữ liệu quản trị sản xuất với cơ quan hải quan; 100% các cửa khẩu, cảng, kho, bãi có được triển khai hệ thống quản lý, giám sát hải quan tự động để quản lý, giám sát hàng hóa đưa vào, lưu giữ, đưa ra khu vực giám sát hải quan bằng phương thức điện tử; 100% danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý, kiểm tra chuyên ngành được mã hóa.

Đến năm 2025: (i) Hoàn thành xây dựng hải quan điện tử thống nhất với kiến trúc Chính phủ điện tử. Hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu trên cơ sở kết nối với trang thiết bị thông minh nhận dạng hình ảnh và ứng dụng phân tích dữ liệu lớn; (ii) Hoàn thành việc tái thiết kế tổng thể hệ thống công nghệ thông tin ngành Hải quan. Hệ thống công nghệ thông tin mới ứng dụng những thành tựu mới về công nghệ, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu quản trị thông minh; quản lý doanh nghiệp, hàng hóa xuất - nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất - nhập cảnh, quá cảnh toàn diện từ khâu đầu đến khâu cuối; có khả năng tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các bộ, ngành, doanh nghiệp thông qua Cơ chế một cửa quốc gia và sẵn sàng trao đổi dữ liệu hải quan với các nước trong khu vực và trên thế giới, xây dựng Hải quan Việt Nam hướng tới hải quan số; (iii) Hoàn thành việc triển khai kết nối với các cơ quan chính phủ và các bên trong chuỗi cung ứng (bao gồm các ngân hàng thương mại, bảo hiểm, doanh nghiệp xuất - nhập khẩu và logistics...) liên quan đến các hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu qua biên giới trên nền Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN. Đến năm 2030, tỷ lệ phân luồng xanh tối thiểu 80%, luồng vàng không quá 15%, luồng đỏ không quá 4% (Chỉ số về giảm tỷ lệ can thiệp trực tiếp trong thông quan).

  

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020.

2. Nghị quyết số 19/NQ-CP các năm 2014 - 2018.

3. Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019, 2020.

4. Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 phê duyệt Đề án Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

5. Quyết định số 1254/QĐ-TTg ngày 26/9/2018 phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 - 2020.

Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam số 1/2021

*1 Theo Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ.