Tin kinh tế - tài chính trong nước tuần 20 - 24/9/2021

Tin kinh tế - tài chính trong nước tuần 20 - 24/9/2021 24/09/2021 16:16:00 96

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Tin kinh tế - tài chính trong nước tuần 20 - 24/9/2021

24/09/2021 16:16:00

 

Tổng cung

 

Sản xuất công nghiệp

Theo Báo cáo tổng kết đánh giá 10 năm phát triển ngành công nghiệp giai đoạn 2011 - 2020, quy mô sản xuất công nghiệp liên tục được mở rộng và tăng cao. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của toàn ngành công nghiệp tăng từ 7,4% (năm 2016) lên 9,1% (năm 2019); giá trị gia tăng của ngành công nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) tăng từ 867,64 nghìn tỷ đồng (năm 2015) lên 1.108,16 nghìn tỷ đồng (năm 2019). Năm 2020, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, chỉ số IIP vẫn duy trì tăng trưởng với mức khoảng 3%; giá trị gia tăng tăng khoảng 3%. 

Tuy nhiên, tốc độ tăng suất lao động trong các ngành công nghiệp thấp hơn mức tăng của toàn nền kinh tế, ngành nông nghiệp, dịch vụ; đặc biệt là trong nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo (2,7%/năm so với 4,7%/năm của cả nước giai đoạn 2011 - 2015, ước chỉ tăng 1,5%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020). Ngoài ra, tính tự chủ của ngành công nghiệp thấp, sự phụ thuộc vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phụ thuộc vào nhập khẩu đối với nguyên liệu đầu vào, công nghệ sản xuất ngày càng cao, dẫn đến giá trị gia tăng tạo ra trong nước thấp.

(Theo haiquanonline.com.vn ngày 21/9)

Doanh nghiệp

Theo Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), trong tháng 8/2021, toàn thị trường có 8.884 xe được bán ra, giảm 45% so với tháng 7/2021 và giảm 57% so với cùng kỳ năm 2020, ghi nhận kỷ lục thấp nhất trong lịch sử của thị trường ô tô Việt Nam kể từ năm 2015 đến nay. Đây cũng là tháng thứ 5 liên tiếp, thị trường ô tô Việt Nam bị sụt giảm doanh số so với các tháng liền kề. Doanh số bán ô tô bắt đầu bị giảm từ tháng 4/2021, khi doanh số đã chứng kiến giảm nhẹ 3,7% so với tháng 3; tháng 5 giảm 15%; tháng 6 giảm 8%; đến tháng 7 giảm mạnh 32%.

(Theo congthuong.vn ngày 15/9)

Tổng cầu

 

Đầu tư

Tính đến ngày 20/8/2021, trên địa bàn các tỉnh miền Trung hiện có 2.151 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 60,77 tỷ USD, chiếm 15,16% tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2021, khu vực miền Trung thu hút được 58 dự án FDI mới, 35 lượt dự án điều chỉnh, 175 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 1,04 tỷ USD, chiếm 5,44% tổng vốn FDI đăng ký của toàn quốc trong giai đoạn này. Hiện Thanh Hóa đang là địa phương dẫn đầu tại khu vực miền Trung về thu hút FDI với 164 dự án, tổng vốn đăng ký lên tới 14,57 tỷ USD, chiếm 24% tổng vốn đăng ký. Tiếp theo là Hà Tĩnh với 79 dự án, vốn đầu tư 11,74 tỷ USD, chiếm 19,3% tổng vốn đăng ký. Đứng thứ ba là Quảng Nam với 223 dự án, vốn đăng ký 6,07 tỷ USD, chiếm 10% tổng vốn đăng ký. Trong tổng số 17 ngành, lĩnh vực thu hút FDI tại các tỉnh miền Trung, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với 839 dự án, tổng vốn đăng ký lên tới 31,74 tỷ USD, chiếm 52,2% tổng vốn đăng ký. Tiếp theo là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện và kinh doanh bất động sản với tổng vốn đăng ký lần lượt đạt 10,02 tỷ USD và 9,91 tỷ USD. Bên cạnh đó, hiện đã có 76 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có dự án FDI tại các tỉnh miền Trung. Trong đó, dẫn đầu là Nhật Bản với 335 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 17,79 tỷ USD, chiếm 29,3% tổng vốn đăng ký. Đứng thứ hai là Đài Loan với 141 dự án và 12,01 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 19,8% tổng vốn đăng ký. Tiếp theo là Singapore với 105 dự án, vốn đăng ký 8,52 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn đầu tư đăng ký.

(Theo congthuong.vn ngày 18/9)

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hoa Kỳ đứng thứ 11 trong 141 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Lũy kế đến ngày 20/8/2021, các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã đầu tư vào Việt Nam 1.122 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 9,7 tỷ USD vào 18/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam. Trong đó, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống với 24 dự án, có tổng vốn đăng ký hơn 4,2 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 44,1% tổng vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Tiếp đến là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 383 dự án, có tổng vốn đăng ký hơn 3,1 tỷ USD, chiếm 32,0% tổng vốn đầu tư. Lĩnh vực thứ ba là cấp nước và xử lý chất thải chiếm 5,4% và vận tải kho bãi, chiếm khoảng 4% tổng vốn đầu tư từ quốc gia này vào Việt Nam.

Ở chiều ngược lại, tính đến tháng 8/2021, các doanh nghiệp Việt Nam đã có 204 dự án đầu tư sang Hoa Kỳ, với tổng vốn đầu tư đạt 1,06 tỷ USD. Các dự án đầu tư sang Hoa Kỳ của doanh nghiệp trong nước tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ, có 10 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 342 triệu USD, chiếm 32,3% tổng vốn đầu tư; hoạt động kinh doanh bất động sản, chiếm 17,3% tổng vốn đầu tư; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12,8% tổng vốn đầu tư.

(Theo congthuong.vn ngày 22/9)

Tính đến tháng 8/2021, vùng Trung du và miền núi phía Bắc hiện có 1.169 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký là 21,11 tỷ USD, chiếm 3,43% tổng số dự án và 5,27% tổng vốn FDI đang đầu tư tại Việt Nam. Riêng 8 tháng đầu năm 2021, có 10/14 địa phương của vùng thu hút được 41 dự án FDI mới, 48 lượt dự án tăng vốn và 49 lượt dự án góp vốn, mua cổ phần với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,06 tỷ USD, chiếm gần 6% tổng vốn đầu tư so với cả nước. Thái Nguyên hiện là địa phương dẫn đầu Vùng với 189 dự án, có tổng vốn là 8,83 tỷ USD, chiếm 41,86% tổng vốn đăng ký của cả vùng. Tiếp theo là Bắc Giang và Phú Thọ với tổng vốn đăng ký lần lượt là 7,8 tỷ USD và trên 2 tỷ USD. Các dự án đầu tư vào vùng tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 970 dự án, có tổng vốn đầu tư trên 19 tỷ USD chiếm 90,2% tổng vốn đầu tư của vùng. Tính đến thời điểm hiện tại, Hàn Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất đầu tư vào vùng Trung du và miền núi phía Bắc với 627 dự án, có số vốn là 8,7 tỷ USD, chiếm 41,3% tổng vốn đầu tư toàn vùng, đứng thứ hai là Singapore và Trung Quốc, với số vốn đăng ký lần lượt là 3,54 tỷ USD và 2,8 tỷ USD.

(Theo congthuong.vn ngày 21/9)

Tính đến ngày 13/9/2021, tổng trị giá hàng hóa xuất - nhập khẩu qua các cửa khẩu thành phố Hồ Chí Minh đạt hơn 95,2 tỷ USD, tăng 7,23% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu đạt hơn 38,1 tỷ USD, giảm 4,56% và tổng trị giá nhập khẩu đạt hơn 57 tỷ USD, tăng 16,9%. Cán cân thương mại hàng hóa tại thành phố Hồ Chí Minh nhập siêu khoảng 18,82 tỷ USD. Có nhiều mặt hàng nhập khẩu tăng cao, như: xăng dầu đạt 3,05 tỷ USD, tăng 162,9%; máy móc thiết bị đạt 5,39 tỷ USD, tăng 18,9%; sắt thép đạt 2,36 tỷ USD, tăng 87,3%; máy vi tính và phụ kiện đạt 14,86 tỷ USD, tăng 28,3% và ô tô các loại nhập khẩu đạt 1,08 tỷ USD, tăng 96,3%, so với cùng kỳ năm 2020.

Tuy nhiên, theo Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian gần đây, do nhiều doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động sản xuất nên lượng hàng hóa nhập - khẩu qua cửa khẩu thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu giảm sâu, ảnh hưởng đến kết quả thu ngân sách nhà nước của đơn vị.

(Theo haiquanonline.com.vn ngày 23/9)

Theo Tổng cục Hải quan, riêng trong tháng 8/2021, xuất khẩu sắt thép các loại đạt 1,53 triệu tấn với kim ngạch gần 1,5 tỷ USD, tăng 33,8% về lượng và tăng 35,2% về trị giá so với tháng 7/2021. Đáng chú ý, so với cùng kỳ năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này gấp 2,5 lần. Tháng 8 là tháng có kim ngạch xuất khẩu sắt thép các loại cao nhất từ trước đến nay và là tháng thứ hai liên tiếp vượt mốc 1 tỷ USD.

Tính đến hết tháng 8/2021, cả nước xuất khẩu 8,54 triệu tấn sắt thép các loại với kim ngạch đạt gần 7,1 tỷ USD, tăng 43,4% về lượng nhưng tăng tới 127% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2020. Về chủng loại, mặt hàng tăng trưởng mạnh nhất trong xuất khẩu là HRC (thép tấm cuộn cán nóng), mức tăng 145% so với cùng kỳ 2020, nhờ Formosa đẩy mạnh xuất; tiếp theo là tôn mạ tăng trưởng 115%, khi top 5 các doanh nghiệp tôn mạ xuất khẩu từ 50 - 67% sản lượng sản xuất (đạt gần 2/3); thép cán nguội tăng 45% và thép xây dựng tăng 27%; duy nhất ống thép giảm gần 10%.

(Theo congthuong.vn ngày 21/9)

Theo Tổng cục Hải quan, trong 8 tháng đầu năm 2021, nhập khẩu ngô các loại đạt 6,9 triệu tấn, trị giá trên 1,91 tỷ USD, giảm 2,8% về khối lượng nhưng tăng 32,2% về kim ngạch. Mỗi tấn ngô có giá bình quân 278,9 USD, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2020. Ngô nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu từ 3 thị trường Argentina, Brazil và Ấn Độ. Trong đó, Argentina là thị trường lớn nhất cung cấp ngô cho Việt Nam với 3,3 triệu tấn, tương đương 986,8 triệu USD, giá 298,7 USD/tấn. Giá nhập khẩu tăng 47,2% so với cùng kỳ năm 2020. Thị trường lớn thứ hai là Brazil, đạt 1,4 triệu tấn, tương đương 300,6 triệu USD. Giá nhập khẩu ở mức 220,6 USD/tấn, tăng 11,8% so với cùng kỳ 2020. Tiếp theo là ngô nhập khẩu từ Ấn Độ tăng 56,2% về lượng và 49,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2020, đạt 1,1 triệu tấn, tương đương 305,9 triệu USD. Giá nhập khẩu từ Ấn Độ là 280,6 USD/tấn.

(Theo congthuong.vn ngày 21/9)

Xuất nhập khẩu

Theo thông tin Tổng cục Hải quan, 15 ngày đầu tháng 9/2021, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 11,57 tỷ USD. Điện thoại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; dệt may là 4 nhóm hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD. Tuy nhiên, kim ngạch của các nhóm hàng chủ lực đều giảm mạnh so với nửa cuối tháng 8/2021. Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch đạt gần 13,1 tỷ USD. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng là 2 nhóm hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trong nửa đầu tháng 9.

Tính chung nửa đầu tháng 9/2021, nhập siêu của Việt Nam tăng khi đạt hơn 1,5 tỷ USD (trong khi nửa cuối tháng 8/2021, Việt Nam xuất siêu 1,25 tỷ USD). Như vậy, diễn biến cán cân thương mại của Việt Nam vẫn liên tục đảo chiều và khó dự đoán. Lũy kế hết ngày 15/9/2021, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu cả nước đạt gần 455 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 225,2 tỷ USD; nhập khẩu đạt 229,4 tỷ USD; Việt Nam nhập siêu 4,2 tỷ USD.

(Theo haiquanonline.com.vn ngày 21/9)

Theo Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), trong 8 tháng đầu năm 2021, tiêu thụ xi măng đạt khoảng 70,77 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, tiêu thụ tại thị trường nội địa đạt khoảng 43,54 triệu tấn, giảm khoảng 5% so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, sản lượng xuất khẩu ước đạt khoảng 27,23 triệu tấn, tăng 12% so với cùng kỳ. Nhu cầu sử dụng xi măng tăng cao và giá xi măng tại các thị trường này cũng đang được điều chỉnh theo xu hướng tăng. Hiện 3 quốc gia ở châu Á gồm Trung Quốc, Philippines, Bangladesh là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của nhóm hàng xi măng và clinker. Nếu tính đến quý II/2021 thì thị trường xuất khẩu vào Trung Quốc duy trì vẫn vị trí đầu với gần 10,3 triệu tấn, kim gạch 368,6 triệu USD, chiếm 49,4% lượng và 45,6% về kim ngạch xuất khẩu xi măng và clinker của cả nước. Tiếp đến Philippines đạt 3,85 triệu tấn, kim ngạch 175,45 triệu USD; Bangladesh đạt 1,93 triệu tấn, kim ngạch 65,4 triệu USD.

Chủ tịch Hiệp hội xi măng Việt Nam (VNCA) đánh giá, thị trường tiêu thụ cả nội địa và xuất khẩu gần như không thay đổi, vẫn ở mức trung bình khoảng 200 triệu tấn/năm. Tuy nhiên nhờ sức cạnh tranh của xi măng, clinker Việt Nam do lợi thế về đường biển đã giúp mặt hàng này tăng trưởng xuất khẩu. Lượng lớn xi măng, clinker Việt Nam xuất khẩu chủ yếu qua Trung Quốc. Thị trường này không thiếu nguồn cung, nhưng nếu các nhà sản xuất tự vận chuyển đến các vùng ven biển sẽ rất xa; trong khi đó, nếu vận chuyển bằng đường biển của Việt Nam thì gần hơn. Nên đây là lợi thế để Việt Nam xuất khẩu xi măng, clinker sang Trung Quốc.

(Theo congthuong.vn ngày 19/9)

Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong tháng 7/2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên CPTPP đạt 3,98 tỷ USD, tăng 0,79% so với tháng 6/2021 và tăng 21,64% so với tháng 7/2020. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này đạt 26,04 tỷ USD, tăng 22,52% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 13,98% tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, bị thu hẹp so với tỷ trọng 14,4% trong 7 tháng đầu năm 2020. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường Nhật Bản, Singapore, Canada, Malaysia… giảm thì xuất khẩu sang các thị trường Chile, Peru, Úc… lại tăng khá so với tháng 6/2021. So với tháng 7/2020, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang 10 thị trường thành viên đều tăng trưởng cao.

Tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và thị trường CPTPP trong tháng 7/2021 đạt 7,9 tỷ USD, tăng 0,51% so với tháng 6/2021 và tăng 22,16% so với cùng kỳ năm 2020. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021, tổng thương mại hai chiều giữa Việt Nam và thị trường CPTPP đạt 52 tỷ USD, tăng 23,36% so với cùng kỳ năm 2020 và bằng 13,86% tổng kim ngạch thương mại hai chiều của cả nước, giảm nhẹ so với 14,71% của cùng kỳ năm 2020. Tháng 7/2021, Việt Nam xuất siêu 59,08 triệu USD sang thị trường CPTPP, tăng 60,52% so với tháng 6/2021 và giảm 22,58% so với tháng 7/2020. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 7/2021, Việt Nam xuất siêu 86,28 triệu USD hàng hóa sang thị trường này, giảm 75,94% so với cùng kỳ năm 2020.

(Theo congthuong.vn ngày 20/9)

Thị trường tài sản

 

Chứng khoán

Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam(VBMA) cho biết, trong tháng 8/2021, trên thị trường đã có 52 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) trong nước, với tổng giá trị đạt 26.077 tỷ đồng. Trong đó, có 51 đợt phát hành riêng lẻ và 1 đợt phát hành ra công chúng với giá trị gần 2 nghìn tỷ đồng của Công ty cổ phần Masan Meatlife.

Nhóm ngân hàng vẫn tiếp tục dẫn đầu về khối lượng phát hành với tổng giá trị 10.854 tỷ đồng, chiếm 41,6% tổng giá trị phát hành. Giữ vị trí thứ hai trong phát hành TPDN là nhóm bất động sản với tổng giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ đạt 8.950 tỷ đồng (khoảng 15% trái phiếu phát hành bảo đảm bằng cổ phiếu hoặc không có tài sản bảo đảm). Các ngân hàng có khối lượng phát hành lớn gồm VPBank (2.630 tỷ đồng), OCB (2.000 tỷ đồng), SHB (1.400 tỷ đồng), đều là các trái phiếu kỳ hạn 2 - 4 năm, lãi suất cố định 3,5 - 4,2%/năm.

(Theo haiquanonline.com.vn ngày 21/9)

Đàm phán - Ký kết

Lễ ký Biên bản ghi nhớ hợp tác kỹ thuật giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNN) Việt Nam và Hội đồng Ngũ cốc Hoa Kỳ (USGC); doanh nghiệp Việt Nam Khai Anh Bình Thuận và USGC, đã được tổ chức vào ngày 22/9/2021, tại trụ sở của USGC ở Washington, Hoa Kỳ. Theo Biên bản ghi nhớ, Bộ NN&PTNN Việt Nam và USGC sẽ thiết lập mối quan hệ hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp thức ăn chăn nuôi, sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học ở Việt Nam cũng như tăng cường hiểu biết lẫn nhau về các chính sách và quy định liên quan phù hợp với luật pháp, quy định, chính sách và mục tiêu phát triển của Việt Nam. USCG sẽ giúp nâng cao năng lực cho các cán bộ quản lý, doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam, doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và làm việc trong lĩnh vực này để tiếp cận công nghệ mới, thương mại kiểu mới và kỹ năng mới để tổ chức quản lý sản xuất. USCG sẽ hỗ trợ các thiết bị y tế như bộ test Covid-19 và thuốc chữa trị Covid-19 dành cho các doanh nghiệp chăn nuôi Việt Nam.

(Theo TTXVN ngày 23/9)

Nhận định

chuyên gia

Khối nghiên cứu toàn cầu thuộc Ngân hàng HSBC dự báo, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì chính sách điều hành tỷ giá như trong thời gian qua, với mục tiêu giảm tỷ giá mua USD thêm. Theo đó, USD/VND được dự báo sẽ giảm từ 22.750 đồng vào cuối quý III/2021 xuống 22.525 đồng vào cuối năm 2021. Bước sang năm 2022, tỷ giá USD/VND có thể đảo chiều về mức 23.000 đồng, trong bối cảnh tài khoản vãng lai chuyển sang thâm hụt, dòng vốn FDI chảy vào chậm lại. Đồng VND có thể đứng trước áp lực đối diện với một đồng bạc xanh mạnh hơn trên thị trường quốc tệ và đồng Nhân dân tệ suy yếu hơn. Trong năm 2021, VND đã vượt qua nhiều yếu tố bất lợi như những lo ngại về ảnh hưởng của dịch Covid-19 kéo dài làm cho đà tăng trưởng chậm lại, cán cân thương mại thâm hụt và sự khác biệt chính sách tiền tệ với Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed). Tuy nhiên, những vấn đề này có thể trở nên nổi cộm hơn vào năm sau.

(Theo congthuong.vn ngày 18/9)

Theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), trong nửa đầu năm 2021, tăng trưởng GDP Việt Nam được hỗ trợ phần lớn bởi mở rộng thương mại. Tuy nhiên, đợt dịch Covid-19 lần thứ 4 đã kéo triển vọng tăng trưởng năm 2021 đi xuống. ADB dự báo, năm 2021, tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam dự kiến ở mức 2,7%, bằng với mức năm 2020; tăng trưởng công nghiệp sẽ giảm xuống 5% so với mức trước đại dịch là 8,9% vào năm 2019; tăng trưởng lĩnh vực du lịch giảm xuống mức 3,3%; tình trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng sẽ chậm hơn do thiếu lao động, thủ tục giải phóng mặt bằng chậm, chi phí vật liệu xây dựng tăng, đặc biệt trong quý III và IV/2021 do sẽ xuất hiện mùa mưa bão; tăng trưởng tín dụng sẽ chậm lại ở mức 10 - 11%, thấp hơn chỉ tiêu 12%. Với những yếu tố đó, ADB đã điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng GDP trong năm 2021 từ mức dự báo 6,7% trước đó xuống 3,8%.

(Theo congthuong.vn ngày 22/9)

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong năm quốc gia có khả năng chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu nhiều nhất do phần lớn dân số sống ở các vùng trũng ven biển. Ước tính biến đổi khí hậu sẽ làm giảm thu nhập quốc dân của Việt Nam lên tới 3,5% vào năm 2050. Với mức độ ảnh hưởng này, các dự án tài trợ vốn cho tăng trưởng xanh đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển bền vững của Việt Nam trong thời gian tới. Theo nghiên cứu của IFC, tài trợ khí hậu ở Việt Nam (tính theo tỷ lệ phần trăm tổng danh mục cho vay của các ngân hàng) mới chỉ đạt khoảng 5%, tương đương với 10,3 tỷ USD và dự báo sẽ tăng lên đáng kể trong những năm tới. IFC cho rằng, việc thực hiện mục tiêu quốc gia giảm 9% tổng lượng phát thải khí nhà kính đến năm 2030 nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu sẽ mang lại cơ hội đầu tư khí hậu trị giá 753 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2030.

(Theo TTXVN ngày 23/9)

 

 

 

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%