Định vị Việt Nam trong lộ trình tăng trưởng toàn diện

Định vị Việt Nam trong lộ trình tăng trưởng toàn diện 12/01/2022 08:24:00 1353

Cỡ chữ:A- A+
Tương phản:Giảm Tăng

Định vị Việt Nam trong lộ trình tăng trưởng toàn diện

12/01/2022 08:24:00

Hoàng Thị Minh Hà

Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

 

“Phát triển bền vững” là mục tiêu lâu dài của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Con đường đi đến được mục tiêu này là một quá trình dài qua nhiều giai đoạn, trong đó có tăng trưởng toàn diện. Mỗi giai đoạn đều cần có sự đánh giá, đo lường để xác định đúng những giải pháp, hướng đi phù hợp. Bài viết tập trung nghiên cứu các quan điểm của thế giới hiện nay khi đo lường lộ trình phát triển của một quốc gia trong giai đoạn được gọi là tăng trưởng toàn diện mà Việt Nam đang bước qua để hướng tới tăng trưởng và phát triển bền vững. Thực tiễn cho thấy, Việt Nam được đánh giá là một trong những nền kinh tế đã làm tốt việc chuyển đổi quá trình tăng trưởng trở nên toàn diện và bền vững hơn so với nhiều quốc gia đang phát triển khác.

Từ khóa: Tăng trưởng bao trùm, tăng trưởng toàn diện, phát triển bền vững.

Sustainable development is a long-term goal of many countries, including Vietnam. But the road to this goal is a long process with many stages, including inclusive growth. Each stage needs assessment and measurement to determine the right solutions and the right direction. This study provides the current world’s approaches when measuring a country's development path in the so-called inclusive growth phase. Practice shows that Vietnam is considered as one of the economies that have done a good job of transforming the growth process to become more inclusive and sustainable than many other developing countries.

Keywords: Inclusive growth, comprehensive growth, sustainable development.

1. Một số vấn đề lý luận chung về tăng trưởng toàn diện

1.1.  Khái niệm tăng trưởng toàn diện

Tăng trưởng toàn diện được nhắc đến lần đầu tiên bởi Acemoglu và các cộng sự (2005) khi đề cập đến sự khác biệt về thu nhập giữa các quốc gia. Luận điểm chính của các tác giả là lý do để các quốc gia có thể tăng trưởng cao và bền vững là do các nước có hệ thống chính trị hài hòa, thành quả và lợi ích từ tăng trưởng kinh tế được phân chia một cách công bằng cho các thành phần kinh tế và nhóm dân cư trong xã hội. Theo các chuyên gia ADB1, tăng trưởng toàn diện là sự tăng trưởng kinh tế góp phần tạo ra cơ hội công bằng hơn cho người dân, góp phần thay đổi tích cực khả năng tiếp cận với các cơ hội kinh tế - xã hội (giáo dục và y tế) cũng như thúc đẩy sự tăng lên của số cơ hội mà người dân có thể tiếp cận. Tăng trưởng toàn diện là tăng trưởng với sự giảm xuống của bất bình đẳng2. Trong khi Romina và cộng sự (2015) - OECD chỉ ra tăng trưởng toàn diện là sự tăng trưởng đa chiều từ sự phân phối tăng trưởng thu nhập một cách bình đẳng mà còn chia sẻ tiến bộ ở các khía cạnh phi thu nhập khác của sự thịnh vượng. Theo Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP, 2015), tăng trưởng được coi là toàn diện khi tăng trưởng được tối đa hóa ở tất cả các nhóm thu nhập, nam giới và phụ nữ, nhóm xã hội và dân tộc, các vùng miền; người dân được hưởng sự bình đẳng cơ hội và lợi ích từ việc tham gia trực tiếp vào quá trình tăng trưởng, chủ yếu thông qua mức độ cao về việc làm và sự cải thiện năng suất lao động (NSLĐ). Như vậy, cho đến nay tăng trưởng toàn diện vẫn là một khái niệm mới, chưa có sự thống nhất và cơ sở lý thuyết rõ ràng. Các tổ chức khác nhau đưa ra nhiều quan điểm về tăng trưởng toàn diện nhưng nhìn chung đều cho rằng tăng trưởng toàn diện là một quá trình thể hiện sự ràng buộc giữa tăng trưởng kinh tế và sự bình đẳng. Sự bình đẳng ở đây theo nghĩa rộng là sự bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực, theo nghĩa hẹp là sự bình đẳng về thu nhập và hưởng thụ các lợi ích từ tăng trưởng.

1.2. Các trụ cột đo lường tăng trưởng toàn diện:

Với quan điểm cho rằng tạo ra cơ hội công bằng cho người dân là con đường dẫn đến tăng trưởng toàn diện, ADB (2014) đã xây dựng khung phân tích tăng trưởng toàn diện cho các quốc gia thuộc châu Á - Thái bình dương. Khuôn khổ các chỉ số tăng trưởng toàn diện (FIGI) được ADB xây dựng từ năm 2011 và dựa trên 35 chỉ tiêu đo lường tổng hợp nghèo đói và bất bình đẳng bao gồm 3 trụ cột: (1) Cơ hội tăng trưởng và mở rộng kinh tế; (2) Hòa nhập xã hội để đảm bảo tiếp cận bình đẳng với cơ hội kinh tế; (3) Mạng lưới an sinh xã hội.

Thống nhất với quan điểm tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết để cải thiện mức sống, Diễn đàn Kinh thế giới (WEF, 2018) xác định các chỉ số định hướng chính đo lường tăng trưởng toàn diện của một quốc gia gồm 3 trụ cột chính là tăng trưởng và phát triển, thu nhập và sự công bằng giữa các thế hệ, tính bền vững. Để đo lường tăng trưởng toàn diện, OECD xuất phát từ thu nhập của hộ gia đình với định nghĩa về mức sống là thu nhập hoặc tiêu dùng. Tuy nhiên, thu nhập chỉ là một chiều của phúc lợi, tính đa chiều còn được thể hiện qua các cơ hội và sự thỏa mãn về cuộc sống như có sức khỏe tốt, tham gia vào các hoạt động thực tiễn, đào tạo và quan hệ xã hội. Theo đó, các chiều phi thu nhập để đo lường tăng trưởng toàn diện bao gồm công việc và sức khỏe.

Như vậy, các nghiên cứu đều thống nhất rằng việc đo lường tăng trưởng toàn diện phải dựa trên một khuôn khổ các chỉ tiêu đại diện cho các lĩnh vực về kinh tế và xã hội. Bài viết tổng hợp các chỉ tiêu đại diện có tính tổng quát từ các khung nghiên cứu về tăng trưởng toàn diện như sau:

Chỉ tiêu về tăng trưởng

[1] Tăng trưởng kinh tế gồm: (i) Quy mô kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế; (ii) Chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp, dịch vụ; (iii) GDP bình quân đầu người, tăng trưởng GDP bình quân đầu người; (iv) Thu nhập, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người và tăng trưởng việc làm.

[2] Tăng trưởng việc làm gồm: (i) Tỷ lệ dân số trên 15 tuổi đang làm việc trên tổng dân số, tỷ lệ thất nghiệp; (ii) Tỷ lệ lao động qua đào tạo; (iii) NSLĐ toàn xã hội; (iv) Tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ; (v) Số người làm chủ tài khoản và đóng góp cho gia đình trên 100 công nhân được nhận tiền công, tiền lương.

Chỉ tiêu về bình đẳng

[1] Bình đẳng thu nhập gồm: (i) Tỷ lệ hộ nghèo; (ii) Chênh lệch thu nhập giữa nhóm người nghèo nhất và nhóm giàu nhất; (iii) Hệ số GINI3.

[2] Bình đẳng cơ hội dịch vụ cơ bản (y tế và giáo dục) gồm: (i) Số năm đi học bình quân; (ii) Tỷ lệ học sinh/giáo viên; (iii) Tỷ lệ chi tiêu của chính phủ cho giáo dục trên tổng chi ngân sách; (iv) Tuổi thọ bình quân; (v) Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng bạch hầu, uốn ván và ho gà (DTP3) trong số trẻ 1 tuổi; (vi) Tỷ lệ bác sĩ, y tá và nữ hộ sinh trên 10 nghìn người dân; (vii) Tỷ lệ chi tiêu của chính phủ cho y tế trên tổng chi ngân sách.

[3] Bình đẳng giới gồm: (i) Tỷ lệ học sinh nữ/nam đi học; (ii) Tỷ lệ tham gia nữ giới trong quốc hội; (iii) Tỷ lệ nữ giới tham gia lực lượng lao động.

Chỉ tiêu về điều kiện sống cơ bản và an sinh xã hội

[1] Cơ sở hạ tầng gồm: (i) Tỷ lệ dân số có điện; (ii) Tiêu dùng điện bình quân đầu người; (iii) Tỷ lệ đường xá được lát đá; (iv) Số người có đăng ký di động trong 100 người; (v) Số người có tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng thương mại trong 1000 người trưởng thành; (vi) Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch; (vii) Tỷ lệ dân số có công trình vệ sinh.

[2] Bảo vệ của xã hội gồm: (i) Các chương trình phúc lợi, trợ cấp, bảo hiểm xã hội; (ii) Các chính sách cho thị trường lao động.

2. Đánh giá hiện trạng tăng trưởng toàn diện của Việt Nam

Để đánh giá tăng trưởng toàn diện tại Việt Nam, bài viết sử dụng các thang đo dựa trên các khung phân tích đã được xây dựng bởi các tổ chức nghiên cứu quốc tế. Trong đó, với quan điểm tăng trưởng toàn diện là tăng trưởng kinh tế trong đó người dân được hưởng các lợi ích về kinh tế một cách công bằng, các chỉ tiêu đo lường được phân thành 3 nhóm chính: nhóm tăng trưởng, nhóm bình đẳng và nhóm điều kiện sống cơ bản và an sinh xã hội.

2.1. Nhóm tăng trưởng

a. Tăng trưởng kinh tế

Kể từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc Đổi mới vào năm 1986 đến nay, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và được duy trì trong một thời gian dài. Đến năm 2020, quy mô kinh tế của Việt Nam đạt 271 tỷ USD4, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,4%/năm giai đoạn 1985 - 2020. Đây là mức tăng trưởng ấn tượng so với mức tăng trưởng bình quân 2,78%/năm5 của toàn thế giới, 3,8%/năm6 của các nước có thu nhập thấp và 4,2%/năm7 của các nước có thu nhập trung bình thấp trong cùng thời kỳ.

Cơ cấu kinh tế của Việt Nam dần chuyển dịch theo hướng tích cực sang các ngành có giá trị gia tăng cao. Đóng góp của nông nghiệp vào tăng trưởng đã giảm mạnh, từ trên 40% GDP (giai đoạn 1986 - 1990) xuống còn 16% (năm 2020). Tỷ trọng lĩnh vực công nghiệp, thương mại dịch vụ tăng lên đáng kể làm phương thức sản xuất của nền kinh tế thay đổi nhanh. Đến năm 2020, dịch vụ trở thành lĩnh vực đóng góp chủ yếu, chiếm 46% GDP; GDP bình quân đầu người liên đạt 2.785,7 USD/người, tăng 10 lần so với năm 1995. Giai đoạn 1995 - 2020, tốc độ tăng GDP bình quân đầu người đạt 5,4%/năm, cao hơn mức tăng trung bình của các nước có thu nhập thấp (2,89%/năm) và hầu hết các quốc gia trong khu vực, ngoại trừ Trung Quốc (8,1%) và Myanmar (7,3%). Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2009 khi thu nhập bình quân đầu người vượt ngưỡng 1.000 USD. Tuy nhiên, thu nhập của Việt Nam còn khoảng cách rất xa với các nước trong khu vực. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đến năm 2020 mới chỉ bằng 1/2 của Thái Lan, 1/3 của Malaysia, 1/6 của Nhật Bản và 1/5 của Hàn Quốc.

b. Cơ hội việc làm

Tăng trưởng kinh tế cao đã tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho nhiều người lao động hơn. Tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam giảm nhanh, từ mức cao nhất 2,9%8 (năm 1997) xuống quanh ngưỡng 2% trong suốt giai đoạn sau đó, tăng lên 2,3% (năm 2020) do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19. Tỷ lệ lao động có việc làm tăng nhanh, từ 47,7% (năm 2000) lên 58% (năm 2013) và duy trì ở ngưỡng 57% (đến năm 2019). Theo ước tính của ILO, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam bình quân giai đoạn 1995 - 2020 là 1,9%, thấp so với mức bình quân của cả thế giới (5,8%), các nước thu nhập trung bình thấp (5,4%), các nước châu Á - Thái Bình dương (4%), cao hơn so với Thái Lan, Lào, Campuchia và Myanmar nhưng thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực9. Có thể thấy, việc giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp là một trong những thành tựu trong công cuộc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

c. Năng suất lao động

Với sự tăng trưởng kinh tế, người lao động có nhiều cơ hội việc làm và đặc biệt là chuyển dịch lao động sang các lĩnh vực có NSLĐ cao, phi nông nghiệp. Lao động nông nghiệp giảm nhanh, từ trên 60% (năm 2000) xuống còn 33% (năm 2020), trong khi đó vẫn đảm bảo sự đóng góp của ngành nông nghiệp vào tăng trưởng. Lao động chuyển dịch dần sang các ngành công nghiệp và dịch vụ, trong đó ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng chủ yếu, tăng nhanh từ 25% lên 36% trong giai đoạn 2000 - 2020. Lao động chuyển sang các ngành phi nông nghiệp có NSLĐ cao hơn, đem lại nhiều lợi ích cho tăng trưởng kinh tế.

Năng suất lao động Việt Nam ngày càng được cải thiện, đặc biệt từ năm 2015 trở lại đây nhưng vẫn thấp so với mặt bằng chung. Mặc dù tăng trưởng kinh tế giai đoạn trước năm 2015 đạt mức khá cao, trên 6%/năm nhưng NSLĐ chỉ tăng 3,8%/năm giai đoạn 2006 - 2015, thậm chí chỉ tăng 2,9% trong năm 2012. Điều này cho thấy, tăng trưởng kinh tế giai đoạn này vẫn chủ yếu là mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, thiếu tính hiệu quả. Từ năm 2015 trở lại đây, nhờ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế cũng như đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, NSLĐ đã tăng nhanh, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 tăng 5,8%/năm, gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2005 - 2015.

Tuy vậy, tốc độ thay đổi NSLĐ của Việt Nam vẫn chưa đủ để thay đổi vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Mặc dù Việt Nam có tốc độ tăng NSLĐ nhanh so với nhiều quốc gia trong khu vực (chỉ đứng sau Trung Quốc và Myanmar) nhưng NSLĐ của Việt Nam vẫn còn rất thấp, thậm chí thấp hơn cả mức bình quân của các nước có thu nhập trung bình thấp. NSLĐ của Việt Nam năm 2020 chỉ đạt 14.445 USD/lao động (giá PPP 2017), chỉ bằng 1/2 NSLĐ của Trung Quốc, 1/4 Malaysia, 1/2 Thái Lan và 1/5 Nhật Bản, 1/6 của Hàn Quốc và 1/11 Singapore.

Nhìn chung, trong nhóm tăng trưởng, mặc dù vẫn còn những hạn chế khi vị thế của Việt Nam thấp nhưng quy mô kinh tế tăng nhanh và mức sống của người dân được cải thiện. Tỷ lệ thất nghiệp giảm nhanh, lao động có nhiều cơ hội việc làm hơn và có điều kiện được đào tạo, học tập với trình độ cao hơn. Mặc quy mô kinh tế còn nhỏ, Việt Nam vẫn đang trong quá trình tích lũy nguồn lực cho tăng trưởng nhưng cũng đã tạo nền tảng cơ bản để Việt Nam tiếp tục lộ trình tăng trưởng toàn diện.

2.2. Nhóm bình đẳng

Lộ trình tăng trưởng toàn diện bên cạnh yếu tố tăng trưởng kinh tế còn đánh giá mức độ tăng trưởng của các yếu tố xã hội như là xem xét việc các lợi ích kinh tế đem lại có được chia sẻ một cách bình đẳng cho người dân hay không. Điều này được thể hiện qua việc tăng các cơ hội tiếp cận của người dân đến dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo, thay đổi về mức sống của người dân. Hầu hết các mục tiêu này đã được thể hiện trong các mục tiêu Thiên niên kỷ của Việt Nam cam kết năm 2000 và Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia thành công trong các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân.

a. Bình đẳng thu nhập

Việt Nam là một trong những quốc gia thành công về giảm nghèo và đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói trước thời hạn (năm 2015). Quá trình giảm nghèo thành công là kết quả của quá trình tăng trưởng kinh tế và các chính sách hiệu quả hướng đến giảm nghèo. Nhờ tăng trưởng nhanh nên chỉ trong vòng hai thập niên, khoảng 30 triệu người đã thoát nghèo, với tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế giảm mạnh, từ 58,1% (năm 1993) xuống 14,5% (năm 2008), tương ứng với mức giảm 2,9 điểm %/năm (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015). Áp dụng với chuẩn nghèo của Chính phủ Việt Nam cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục xu hướng giảm từ 37,4% (năm 1998) xuống 5,8% (năm 2016), tương ứng với mức giảm 1,7 điểm phần trăm/năm (nếu bỏ qua sự thay đổi về tiêu chí nghèo theo giai đoạn). Từ năm 2016 trở lại đây, chuẩn nghèo đa chiều được áp dụng, tỷ lệ hộ nghèo vẫn đang tiếp tục xu hướng giảm, từ 9,2% (năm 2016) xuống còn 4,8% (năm 2019) nhưng tốc độ đã chậm lại, giảm tương ứng 0,9 điểm phần trăm/năm. Điểm tích cực là tỷ lệ nghèo có xu hướng giảm xuống dù theo bất cứ tiêu chí phân loại nào, ở thành thị hay nông thôn hay phân theo vùng địa lý.

Kể từ năm 2002 trở lại, đây bất bình đẳng về thu nhập của Việt Nam không có sự thay đổi nào. Tình trạng bất bình đẳng tăng nhẹ trong giai đoạn các năm 2008 - 2010 và 2014 - 2016 phản ánh đúng thực trạng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này. Giai đoạn 2008 - 2010, Việt Nam chịu ảnh hưởng của việc gia nhập WTO và khủng hoảng tài chính thế giới đã hình thành nên một bộ phận người dân giàu lên nhanh chóng nhờ các cơ hội kinh tế không dành cho người nghèo như đầu tư chứng khoán, xuất - nhập khẩu, đầu tư bất động sản. Điều này có nghĩa là cơ hội nhận được lợi ích từ tăng trưởng kinh tế đến với những người dân không nghèo nhiều hơn những người dân nghèo làm cho bất bình đẳng thu nhập trở nên trầm trọng hơn. Tương tự trong năm 2015, khi tăng trưởng kinh tế phục hồi sau giai đoạn chịu ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính năm 2008 và nhiều chính sách thúc đẩy tăng trưởng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng được thực thi, lợi ích trước hết đến với nhóm người dân không nghèo sau đó mới có sự điều chỉnh lại phân phối thu nhập khi hệ số GINI giảm nhẹ năm 2018 - 2019. Hệ số GINI tiếp tục giảm sâu trong năm 2020 ở mức 0,37 chủ yếu là do tăng trưởng kinh tế chậm lại dưới tác động tiêu cực của dịch Covid-19.

Nếu so sánh về bất bình đẳng thu nhập giữa các quốc gia trong khu vực, Việt Nam là một trong số các quốc gia ít bất bình đẳng về thu nhập, chỉ số GINI ở mức 35,7, tương đối thấp so với một số quốc gia trong khu vực. Mặc dù tăng trưởng kinh tế tăng nhanh trong thời gian qua nhưng bất bình đẳng về thu nhập không thay đổi, qua đó cho thấy cơ hội hưởng lợi ích từ tăng trưởng vẫn được giữ vững trong một thời gian dài.

Hình 1. Chỉ số GINI năm 2019 theo cách tính của WB

image

Nguồn: WB (tháng 10/2021)

Ghi chú: (-t) là khoảng thời gian trễ so với năm 2019

b. Bình đẳng trong các dịch vụ y tế, giáo dục

Lĩnh vực giáo dục

Giáo dục được coi là một trong những dịch vụ cơ bản quan trọng làm tăng cơ hội việc làm, từ đó tăng thu nhập và nâng cao mức sống của người dân. Theo đó, tăng trưởng toàn diện nhấn mạnh đến cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục một cách bình đẳng của người dân. Sự khác nhau trong việc tiếp cận các cơ hội giáo dục có thể tạo ra những khác biệt về việc làm và dẫn đến sự khác biệt về thu nhập.

Phổ cập giáo dục tiểu học là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam được cam kết từ năm 2000. Tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi có xu hướng tăng lên, đạt 97,3% (năm 2018). Cho đến nay, Việt Nam đã đạt mục tiêu là mọi trẻ em đều có cơ hội được đến trường. Đặc biệt là tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi trung học cơ sở đã tăng nhanh, từ 78,4% (năm 2008) lên hơn 92% (năm 2018), gần đạt mức phổ cập 95%.

Với những cải thiện từ chính sách giáo dục của Chính phủ, bên cạnh việc đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục cho những cấp học ban đầu, Việt Nam cũng có sự cải thiện đáng kể về số năm đi học bình quân của nhóm dân số từ 25 tuổi trở lên, tăng từ 3,9 năm (năm 1990) lên 8,3 năm (năm 2019). Đây là sự cải thiện vượt bậc so với nhiều quốc gia trong cùng khu vực, đặc biệt là Việt Nam vượt qua Thái Lan và Trung Quốc từ năm 2008.

Hình 2. Thay đổi về số năm đi học bình quân, 1990 - 2019

Đơn vị: Năm

image

Nguồn: http://hdr.undp.org/ (UNDP, 2019)

Người dân có nhiều cơ hội được học tập và tiếp cận chất lượng giáo dục tốt hơn, thể hiện qua tỷ lệ học sinh/giáo viên có xu hướng giảm trong khi số năm đi học bình quân tăng. Đến năm học 2019 - 2020, tỷ lệ học sinh trên giáo viên cấp tiểu học là 23 học sinh/1 giáo viên10, tăng lên từ mức thấp nhất là 19 học sinh/giáo viên (năm 2014), nhưng đây vẫn là mức thấp so với giai đoạn đầu tăng trưởng kinh tế (34 học sinh/1 giáo viên năm học 1995 - 1996). Tuy vậy, tỷ lệ trên vẫn cao so với nhiều nước trong khu vực (Trung Quốc là 16, Indonesia là 17, Malaysia là 12 và Thái Lan là 17)11.

Như vậy, tỷ lệ học sinh/giáo viên giảm, số năm đi học trung bình và tỷ lệ nhập học đúng tuổi tăng là kết quả của các chính sách phát triển giáo dục hiệu quả cũng như sự tăng cường đầu tư cho giáo dục trong thời gian qua. Các tích lũy từ tăng trưởng kinh tế đang được chuyển dần sang sự tăng trưởng về giáo dục. Chi tiêu của ngân sách nhà nước (NSNN) cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ chi cho giáo dục trên tổng chi năm 2015 là 16% và giảm nhẹ xuống 14 - 15% giai đoạn 2015 - 2020. Tuy vậy, đây vẫn là thấp so với mức bình quân của các nước thu nhập trung bình thấp là 16,2%12.

Lĩnh vực y tế

Việt Nam đã có sự phát triển nhảy vọt trong chăm sóc sức khỏe của người dân. Người dân có nhiều cơ hội để tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe hơn khi mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh đã được mở rộng phủ khắp toàn quốc. Chính phủ đã quan tâm và củng cố cũng như hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt là tại các vùng miền núi, vùng sâu, xa về cả cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực. Công tác chăm sóc sức khỏe đã được củng cố và đổi mới, nhiều giải pháp được đưa vào thực hiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe. Kết quả là, tuổi thọ bình quân của Việt Nam đã tăng nhanh, từ 70,6 tuổi (năm 1990) lên 75,4 tuổi (năm 2019). Theo Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), tuổi thọ dự kiến khi sinh của Việt Nam đang cao hơn mức bình quân của thế giới là 72,8 tuổi, các nước phát triển con người trung bình là 69,3 tuổi, các nước phát triển con người cao là 75,3 tuổi.

Trong giai đoạn 2005 - 2017, tổng chi thường xuyên cho y tế, dân số và gia đình tăng nhanh gấp đôi, từ 10% lên 23% tổng chi NSNN13. Trong đó, chi riêng cho y tế tăng từ 7,4% lên 9,3% tổng chi NSNN năm 2018, là tỷ lệ cao so với các nước trong khu vực. Với tỷ lệ này, Việt Nam hiện chỉ đứng sau Thái Lan (15%) và Singapore (15,2%) và gấp 1,9 lần so với tỷ lệ chi cho y tế bình quân của các nước có thu nhập trung bình thấp14. Như vậy, cùng với tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế cho mọi đối tượng người dân và thực tiễn cho thấy đạt được nhiều thành tựu tích cực.

c. Bình đẳng giới

Bình đẳng giới trong giáo dục

Việt Nam đã thành công trong việc xóa bỏ bất bình đẳng giới trong giáo dục ở tất cả các cấp học. Trong năm học 2000 - 2001, tỷ lệ giữa học sinh nữ với học sinh nam lần lượt là 91%, 88,9%, và 87,8% ở bậc tiểu học, trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT). Đến năm học 2019 - 2020, tỷ lệ này đã tăng lên lần lượt là 91,4%, 93,8% và 114,9%. Đáng chú ý là, số lượng nữ giới đi học ở các bậc học cao (THPT và đại học) tăng nhanh, từ 88 nữ/100 nam ở cấp THPT (năm học 2000 - 2001) tăng lên 115 nữ/100 nam (năm học 2019 - 2020). Như vậy, cùng với sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo, bất bình đẳng giới trong giáo dục cũng ngày càng được cải thiện đáng kể, đặc biệt là các cấp học cao hơn. Điều này cho thấy cơ hội được tiếp cận với dịch vụ giáo dục là bình đẳng giữa nam và nữ, cũng như nữ giới được tạo điều kiện được học tập và nâng cao tri thức, làm nền tảng để có công việc tốt và cải thiện đời sống.

Bình đẳng giới trong việc làm

Bình đẳng giới trong việc làm được thể hiện qua sự tham gia của nữ giới làm công và thuê trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Trong thời gian qua, tỷ lệ lao động nữ làm công và thuê trong khu vực phi nông nghiệp trên tổng lao động nữ có xu hướng tăng lên, từ 24,2% (năm 2008) lên 37% (năm 2018). Tỷ lệ này vẫn thấp so với nam giới. Tuy nhiên, nếu xem xét đến tỷ lệ nữ giới làm việc trong khu vực phi nông nghiệp so với tổng lao động làm việc trong lĩnh vực này, tỷ lệ này đã tăng từ 39,5% (năm 2010) lên 42,4% (năm 2018). Kết quả này cho thấy sự cải thiện về cơ hội việc làm có thu nhập cao đối với nữ giới.

Bình đẳng giới trong Quốc hội

Bình đẳng giới cũng được thể hiện thông qua sự tham gia của nữ giới tại các vị trí ra quyết định. Theo UNDP, nữ giới chiếm một nửa dân số và họ có thể đảm nhiệm 50% vị trí ra quyết định. Đồng thời, cơ quan lập pháp nào có tỷ lệ phụ nữ đông hơn thì các chính sách và luật pháp về bảo vệ con người và môi trường sẽ được thông qua nhiều hơn. Trong tăng trưởng toàn diện, bình đẳng giới trong Quốc hội được coi là một chỉ tiêu đánh giá cơ hội mà nữ giới có thể tiếp cận được bình đẳng với nam giới. Tỷ lệ nữ giới tham gia vào Quốc hội khóa XIV khóa XIV là 26,72%, nếu so sánh giữa các nhiệm kỳ thì tỷ lệ này đã giảm từ 27,3% nhiệm kỳ 2002 - 2007. Mặc dù tỷ lệ này được đánh giá là cao so với mức bình quân của thế giới là 24,5% và châu Á là 20,1%15 nhưng sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo và quản lý vẫn ở mức thấp. Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với các thách thức trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ.

2.3. Nhóm điều kiện sống cơ bản và an sinh xã hội

a. Điều kiện sống cơ bản

Bên cạnh các yếu tố về kinh tế và bình đẳng, đảm bảo cho người dân nâng cao điều kiện sống cơ bản được coi là một trong những mục tiêu của tăng trưởng toàn diện. Theo đó, người dân có cơ hội để cải thiện điều kiện sống dựa trên những lợi ích từ tăng trưởng kinh tế đem lại. Các điều kiện sống cơ bản là khả năng tiếp cận điện, nước và vệ sinh của người dân. Với hệ thống điện lưới được xây dựng dày đặc trong thời gian qua đã đảm bảo 99% hộ gia đình có điện sinh hoạt16. Tương tự, tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh cũng tăng nhanh, từ 78,1% (năm 2002) lên 97% (năm 2020). Với tiêu chí vệ sinh, tỷ lệ hộ dùng nhà vệ sinh hợp vệ sinh cũng tăng nhanh, từ 55,1% (năm 2002) lên 94% (năm 2020). Mặc dù sự khác biệt về mức sống, thu nhập giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế - xã hội dẫn đến sự khác biệt trong khả năng tiếp cận đến các dịch vụ cơ bản trong nâng cao điều kiện sống của người dân. Nhìn chung trong thời gian qua, Việt Nam đang thực hiện tốt nền tảng cơ sở hạ tầng thiết yếu nhằm nâng cao điều kiện sống của người dân.

b. An sinh xã hội

An sinh xã hội chủ yếu được thể hiện qua các chính sách bảo hiểm xã hội - người dân nhận được lợi ích hay dịch vụ khi tham gia như lương hưu, bảo hiểm tàn tật, phúc lợi cho những người thân còn sống và bảo hiểm thất nghiệp hoặc các chương trình trợ cấp tại các thời điểm gặp các cú sốc về kinh tế. Theo đó đến nay, chính sách an sinh xã hội, trong đó có chính sách về bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), đã và đang chứng minh vai trò là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Độ phủ của BHXH ngày càng được mở rộng. Tuy vậy, với trình độ phát triển kinh tế như hiện nay, tỷ lệ lao động tham gia BHXH còn thấp. Đến năm 2019, chỉ có 15,7 triệu người tham gia BHXH, chiếm 28,8% số lao động đang làm việc. Hơn 2/3 số người lao động đang phải đối mặt với nguy cơ rủi ro về tài chính khi về già khi không tham gia BHXH và làm gia tăng áp lực lên hệ thống an sinh xã hội. Mặt khác, Quỹ BHXH đặc biệt là quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối nghiêm trọng khi Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số kể từ năm 2011 với số người cao tuổi đã chiếm tới 10% dân số. Theo đó, những áp lực lên hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam đang ngày càng nặng nề trong bối cảnh dân số già hóa nhanh. Tính toàn diện về an sinh xã hội vẫn còn là một thách thức lớn đối với Việt Nam trong thời gian tới.

3. Một số vấn đề đặt ra đối với tăng trưởng toàn diện ở Việt Nam

Thực trạng tăng trưởng trên các khía cạnh của tăng trưởng toàn diện cho thấy Việt Nam đã và đang thực hiện tốt sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và việc gia tăng các cơ hội cho người dân nhận được lợi ích từ tăng trưởng kinh tế. Việt Nam được đánh giá là một trong số ít quốc gia mới nổi có chỉ số phát triển toàn diện (IDI) ở mức cải tiến và đã làm tốt việc chuyển đổi quá trình tăng trưởng trở nên toàn diện hơn và bền vững hơn với mức tin cậy ở mức cao so với nhiều quốc gia đang phát triển khác. Tuy vậy, viêc thưc hiện mục tiêu tăng trưởng toàn diện Việt Nam hiện còn tồn tại một số vấn đề như:

(i)  Quy mô kinh tế nhỏ của một nước có thu nhập trung bình thấp dẫn đến sự huy động nguồn lực cho tăng trưởng còn hạn chế, chưa tạo được sự bứt phá cho tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại trong giai đoạn gần đây cho thấy mô hình tăng trưởng theo chiều rộng không tạo được đà tăng trưởng nhanh như giai đoạn trước. Trong khi đó NSLĐ của Việt Nam thuộc nhóm thấp so với nhiều nước trong khu vực.

(ii) Đầu tư cho chất lượng giáo dục còn hạn chế. Mặc dù các tích lũy từ tăng trưởng kinh tế đang được chuyển dần sang cho sự tăng trưởng về giáo dục nhưng tỷ lệ chi cho giáo dục của Việt Nam vẫn đang ở mức thấp so với mức bình quân chung của các nước có thu nhập trung bình thấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, trong khi chất lượng lao động qua đào tạo vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu sử dụng dẫn đến những cản trở trong việc chuyển giao và thực hiện áp dụng khoa học công nghệ cũng như đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.

(iii)  Bất bình đẳng thu nhập còn chậm được cải thiện. Trong thời gian dài, sự chênh lệch thu nhập giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất vẫn khó thu hẹp lại, hệ số GINI gần như không có sự cải thiện đáng kể. Sự bất bình đẳng ở khu vực nông thôn luôn cao hơn so với khu vực thành thị.

(iv)  Bất bình đẳng giới còn lớn. Tỷ lệ nữ giới làm việc trong khu vực phi nông nghiệp còn thấp tương đối với so với nam giới, chưa kể đến thu nhập bình quân của nữ giới vẫn thấp so với nam giới và chưa có sự cải thiện đáng kể trong thời gian qua, đây là hậu quả từ sự bất bình đẳng của cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe đến cơ hội việc làm giữa nam và nữ.

(v) Tính toàn diện về an sinh xã hội còn thấp. Tỷ lệ người lao động tham gia BHXH thấp trong khi dân số ngày càng già hóa, dẫn đến những áp lực lên hệ thống an sinh xã hội trong tương lai.

4. Một số khuyến nghị chính sách

Việt Nam bước vào giai đoạn 2021 - 2025 với nền tảng tăng trưởng được duy trì khá ổn định và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Mặc dù chịu tác động tiêu cực trong năm 2020, tăng trưởng kinh tế bị suy giảm, nhưng Việt Nam vẫn là một trong số ít quốc gia tăng trưởng dương và đứng trước nhiều cơ hội từ sự hội nhập ngày càng sâu rộng với việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sự dịch chuyển các chuỗi cung ứng toàn cầu… Tuy vậy, các dự báo về tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư trong giai đoạn tiếp theo trở nên kém sáng sủa hơn khi dịch Covid-19 vẫn chưa được kiểm soát trên toàn cầu, đe dọa kéo lùi những thành quả trong phát triển bền vững của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh này, để tiến xa hơn trong lộ trình tăng trưởng toàn diện, Việt Nam cần chú trọng những vấn đề sau:

(i)  Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng hiệu quả nhằm mở rộng quy mô kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân cần tiếp tục được đẩy mạnh. Đây là điều kiện cần để tăng trưởng toàn diện. Trước mắt cần đẩy mạnh việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế.

(ii) Việt Nam cần tăng đầu tư cho y tế và giáo dục, đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận với các cơ hội chăm sóc sức khỏe và nâng cao tri thức. Các chính sách cần hướng đến việc chuyển đổi các lợi ích từ kinh tế sang cơ hội chăm sóc y tế và học tập cho mọi đối tượng người dân. Việt Nam đã có nhiều thành tựu khi đảm bảo được bộ phận lớn người dân có thể tiếp cận đến các dịch vụ công như y tế và giáo dục tuy nhiên vẫn còn sự quá tải tại các thành phố lớn hoặc thiếu thốn tại vùng sâu, vùng xa. Theo đó, nhu cầu và khả năng của người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản cần được đánh giá đúng, từ đó bố trí nguồn ngân sách và các chính sách riêng phù hợp với thực tiễn từng vùng.,

(iii)  Tăng trưởng kinh tế cần hướng đến giảm khoảng cách thu nhập giữa các nhóm thu nhập. Theo đó, chính sách kinh tế cần được thực hiện kết hợp với chính sách an sinh xã hội. Nguồn lực sử dụng cho giảm nghèo cần được minh bạch hóa. Bên cạnh đó, Việt Nam cần có cơ chế, chính sách thu hút nguồn xã hội hóa cho giảm nghèo và tạo cơ hội việc làm bền vững, lâu dài cho người yếu thế. Đồng thời, nâng cao hiệu quả trong xây dựng và thực thi các chương trình giảm nghèo gắn với thực tiễn, bám sát nhu cầu người dân.

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Báo cáo Quốc gia: Kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam.

2. Bộ Y tế (2019), Tổng kết công tác y tế năm 2019 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2020.

3. Tổng cục Thống kê (2019), Điều tra mức sống hộ gia đình, Nhà xuất bản Thống kê.

4. UNDP (2019), Báo cáo Phát triển con người năm 2019: Bất bình đẳng trong Phát triển con người ở thế kỷ 21.

5. UNDP (2015), Tăng trưởng vì mọi người: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm.

Tiếng Anh

6. ADB (2014), Framework of Inclusive Growth Indicators 2014. s.l., Printed in the Phillipines.

7. Boarini, R., F. Murtin and P. Schreyer (2015), Inclusive Growth: The OECD Measurement Framework. s.l., OECD Statistics Working Papers.

8. CAFOD (2014), What is “Inclusive Growth”? . s.l., CAFOD discusstion paper.

9. McKinley, Terry (2010), Inclusive Growth Criteria and Indicators: An Inclusive Growth Index for Diagnosis of Country Progress. s.l., ADB Sustainable Development Working Paper Series.

10. Romina Boarini, Fabrice Murtin and Paul Schreyer (2015), Inclusive Growth: The OECD Measurement Framework. s.l., OECD Statistics Working Papers.

Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam số 5/2021

 

*1 Ali và Son (2007), Ali và Zhuang (2007).

*2 Rauniyar, Ganesh và Ravi Kanbur (2010).

*3 Hệ số GINI dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Nó có giá trị từ 0 đến 1, với 1 là bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối. Chỉ số GINI (GINI Index) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm, được tính bằng hệ số Gini nhân với 100.

*4 Ước tính với tỷ giá ngày 30/12/2020: 1 USD = 23.010 VND.

*5 Global Economic Prospect (WB, 2021) và WB database, giai đoạn 1985 - 2020.

*6 Global Economic Prospect (WB, 2021) và WB database, giai đoạn 1985 - 2020.

*7 WB database, giai đoạn 1985 - 2020.

*8 WB database (tháng 10/2021).

*9 WB database (tháng 10/2021).

*10 Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê (TCTK).

*11 HDR database, tháng 01/2021.

*12 WB database, tháng 10/2021.

*13 TCTK, tháng 01/2021.

*14 WB database, tháng 01/2021.

*15 http://archive.ipu.org/wmn-e/world.htm.

*16 Điều tra mức sống hộ gia đình, TCTK, năm 2018.

Bình chọn

Điểm bình chọn
0 / 5
Tổng 0 lượt bình chọn
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%